Osho - Ngón tay chỉ
trăng
Chương 3. Nhân chứng và
ảo tưởng
Biết
bản thân mình là sakshi pratyagatma,
linh hồn chứng
kiến bên trong về
trí năng của người
ta và tất cả
những khuynh hướng
của nó, và thu được
khuynh hướng rằng
“Cái đó là tôi,” từ bỏ
đòi hỏi ‘của
tôi’ với mọi
vật.
Từ
bỏ theo đuôi lok, xã hội,
người đó từ
bỏ theo đuôi cả
thân thể. Từ
bỏ theo đuôi kinh sách, người
đó từ bỏ
ảo tưởng
cả về
linh hồn.
Được
bắt rễ
vào linh hồn mình, và thông qua
các kĩ thuật, thông qua việc
lắng nghe và thông qua tự
kinh nghiệm, nhà yoga nhận
ra bản thân mình là linh hồn
của tất
cả và tâm trí của
người đó bị
triệt tiêu.
Không trao cơ
hội cho việc
ngủ, cho chuyện
trò của xã hội,
cho âm thanh, động chạm,
hình dạng, vị
và mùi - các đối tượng
của giác quan - và sự
quên lãng của linh hồn,
suy tư về linh hồn
bên trong.
Làm
sao người ta có thể đi vào trong chân lí tối cao
đó, làm sao người ta có thể biết rằng bí ẩn tối cao ở gần đến thế và vẫn còn chưa
được biết tới? - cái nào là vĩnh viễn với chúng ta và vậy mà bị mất? Làm sao chúng ta đạt tới nó? Làm sao đã có ai đã bao giờ đạt được tới nó? Trong những kinh
này là giải thích về khoa học đó, quá trình của con đường đó.
Trước hết chúng ta hiểu đôi điều về ảo tưởng. Ảo tưởng có nghĩa là thấy khi
nó không có. Chân lí có nghĩa là thấy khi
nó có. Bất kì cái gì chúng ta thấy đều là ảo
giác, bởi vì chúng ta đưa cả bản thân mình vào trong việc thấy của mình; kinh nghiệm của chúng ta không còn khách
quan, nó
trở thành chủ quan. Bất kì cái gì đang có ở ngoài kia, nó không tới
chúng ta như nó vậy. Tâm trí chúng ta bóp méo nó, tô vẽ nó, trang điểm cho
nó, tỉa tót nó, làm cho nó lớn hơn
hay nhỏ hơn và thay đổi nó
thành nhiều, nhiều dạng.
Thay
đổi lớn nhất, lừa dối sâu
sắc nhất, là ở chỗ chúng ta liên kết bản thân mình với mọi thứ, mà
thực tế chúng
ta không được liên kết chút nào. Ngay khi chúng ta được liên kết thực tại bị mất và
phóng chiếu mơ bắt đầu dường như
thật. Chẳng hạn, chúng ta gọi một thứ là ‘của tôi’
- nhà của tôi... ngôi nhà đã có đó khi chúng
ta còn chưa có và nó sẽ còn đó khi chúng ta không còn nữa. Cái gì đó có thể hiện hữu trước khi
tôi hiện hữu, và
sẽ tiếp tục sau khi tôi không hiện hữu, cái không biến mất cùng với sự biến mất của tôi
- làm sao mà nó có thể là ‘của tôi’
được? Nếu tôi
chết vào khoảnh khắc này, ngôi nhà của tôi đâu có sập đổ hay biến mất; thực tế nó thậm chí
sẽ không biết rằng tôi đã chết. Thế thì loại liên kết nào có thể có đó giữa bản thân tôi và ngôi nhà đó? Mối quan hệ là gì? Ngày mai ai đó khác sẽ sống trong cùng ngôi nhà đó và gọi nó là ‘của
tôi’. Hôm qua ai đó khác đã sống trong nó và người đó đã gọi nó
là 'của tôi'. Ai biết được bao nhiêu người đã móc ‘cái tôi’ của họ vào ngôi nhà đó, và đã qua đời rồi? Nhưng ‘cái tôi’ đó không bao giờ dán được lên ngôi này, và ngôi nhà đó cũng
không thuộc về ai cả; ngôi nhà thuộc về bản thân nó.
Trong
thế giới này
mọi thứ đều thuộc về cái
ta riêng của nó. Nếu chúng ta có thể hiểu được điều này
đúng đắn chúng ta sẽ có thể làm tan vỡ các ảo tưởng một cách dễ dàng.
Có
một mảnh đất. Bạn gọi nó
là cánh đồng của tôi,
hay khu vườn của tôi.
Nếu không phải hôm nay, ngày mai sẽ có lời đòi hỏi đưa ra về mặt trăng
- Mĩ sẽ nói đấy là
‘của chúng tôi’, Nga sẽ nói đấy là ‘của chúng tôi’. Cho đến hôm
qua mặt trăng đã không thuộc về ai cả; nó đơn giản có
đó, nó đơn giản thuộc về bản thân nó. Nhưng
bây giờ người này
hay người nọ sẽ đòi hỏi sở hữu mặt trăng và sớm hay muộn sẽ có
tranh đấu và đương đầu. Cho
tới tận bây
giờ mặt trời vẫn thuộc về chính nó, nhưng
ngày mai mặt trời cũng
có thể bị đòi hỏi thuộc ai đó.
Cứ nơi
đâu con người đặt chân
tới con người đều gắn luôn
cái nhãn cho nó là ‘cái tôi’ của người đó.
Tự nhiên không chấp nhận cái nhãn của người đó, nhưng những người khác phải chấp nhận, nếu
không thì sẽ có đương đầu. Người khác phải chấp nhận các cái nhãn bởi vì họ muốn đặt nhãn của riêng họ vào mọi thứ. Cho
nên nhà trở thành của ai đó và mảnh đất trở thành của ai đó khác. Tại sao
chúng ta nôn nóng muốn dán cái nhãn ‘tôi’ này vào đâu đó
vậy? Nôn nóng là bởi vì càng nhiều chỗ và vật mà chúng ta dán được nhãn này lên, hay kí tên vào đó, cái vòng ‘của tôi’ càng lớn hơn và cái 'tôi’ cũng phát triển lớn hơn bên trong chúng ta.
‘Tôi’
lớn như số lượng những vật mang nhãn của nó. Nếu ai đó nói rằng người đó có một sào đất thì làm sao cái 'tôi’ của người đó lớn bằng cái 'tôi’ của người khác, người nói,
“Tôi có một nghìn sào đất” được?
Với sự bành trướng của cái ‘của tôi’, cái 'tôi’ cảm thấy dường như nó đang tăng trưởng lớn hơn.
Nếu bành trướng của cái 'của tôi’ giảm đi,
cái 'tôi’ cũng co lại. Cho nên mọi hòn gạch của
'tôi’ đều được làm
từ cái ‘của tôi’. Vậy tôi
có thể nói 'của tôi' càng nhiều
cách, lâu đài của cái 'tôi' càng vươn lên cao hơn. Do đó trong toàn bộ cuộc đời
mình, chúng ta vẫn còn chỉ trong một cuộc đua:
bao nhiêu thứ chúng ta có thể dán nhãn của mình
lên và nói, “Đấy là của
tôi.” Trong khi làm như
vậy, trong khi chúng ta tiếp tục gán nhãn cho mọi thứ, một hôm
nào đó chúng ta chết, và bất kì chỗ nào chúng ta đã đặt nhãn của mình, ai đó khác bắt đầu dán nhãn của người ấy vào
mọi thứ chúng
ta đã gọi là ‘của tôi’.
Mọi thứ đều thuộc về bản thân
chúng, không thuộc về người nào cả. Chúng có thể được dùng, nhưng không thể có chủ sở hữu. Chủ sở hữu là ảo tưởng, và
trong khi chúng ta dùng chúng, chúng ta nên có cảm giác
biết ơn bởi vì chúng ta đang dùng cái gì đó
không thuộc về mình.
Nhưng khi chúng ta nói
‘của tôi’, mọi cảm giác về biết ơn đều biến mất và thế giới mới về cái ‘của tôi’ được tạo ra. Cái đó bao gồm tiền bạc, địa vị, danh vọng, giáo dục và đủ mọi thứ. Với những thứ này điều đó có thể là được, nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn
là ở chỗ những cái không liên can gì tới 'tôi’ cũng được bao
hàm. Chúng ta nói: tôn giáo của tôi, thượng đế của tôi,
thiên thần của tôi,
đền đài của tôi - với cả những người mà
‘tôi’ chẳng có quan hệ gì với bất kì
cái gì. Và nếu điều đó
là có thể, thế thì
không có khả năng nào giải phóng bản thân
người ta khỏi thế giới. Nếu tôn giáo cũng có thể là của tôi hay của anh,
nếu Thượng đế cũng có thể là của tôi hay của anh,
thế thì không có hi vọng nào cả. Thế thì
chúng ta sẽ tìm con đường ra khỏi cái ‘của tôi’ ở đâu? Nếu Thượng đế cũng
rơi vào trong phạm vi quyền lực của mình, thế thì
không còn lại chỗ nào
cho cái ‘tôi’ đi đâu cả. Nhưng chúng ta đặt cái
nhãn ‘của tôi’ vào đền đài và nhà thờ và
vào cả Thượng đế nữa.
Bất kì nơi
đâu con người tới, người đó cũng đem tới đấy cả cái ‘của tôi’. Cố hiểu ngụ ý này. ‘Tôi’ thực tế trở nên lớn hơn
qua ‘của tôi’, nhưng cái ‘của tôi’ càng bành trướng hơn, bất hạnh càng lớn hơn. Tăng trong 'tôi’ là tăng của bất hạnh, bởi vì ‘tôi’ là vết thương. Và cái ‘tôi’ càng lớn, vùng nhạy cảm đau càng lớn, cho
nên nhiều vết thương hơn có thể phát tác trên nó. Cũng tựa như
ai đó có một vết thương thể chất lớn luôn dễ gây ra đau đớn mọi lúc; bất kì một cử động người đó
thực hiện và
điều đó gây đau. Vết thương
lớn, trải trên
vùng rộng, một cái
chạm khẽ là đủ gây đau. Cái ‘tôi’ càng lớn, vết thương càng lớn và
cái đau cũng càng lớn.
Với việc bành trướng của cái ‘của tôi’, cái ‘tôi’ bành trướng. Khi cái ‘tôi’ tăng lên, đau cũng tăng lên. Một mặt người ta cảm thấy rằng hạnh phúc đang tăng lên, mặt khác
bất hạnh
cũng tăng lên. Chúng ta càng làm tăng hạnh
phúc này, càng nhiều bất hạnh cứ tăng lên - và giữa hai điều này ảo tưởng được mang theo. Nơi không có khả năng nào nói cái ‘của tôi’
thì thế nữa
chúng ta vẫn tiếp tục nói ‘của tôi’ một cách giả dối, vô nghĩa lí. Tay này bạn gọi là ‘của tôi’, thân thể này bạn gọi là
‘của tôi’, đều không phải là của bạn. Khi bạn không có, ngay cả thế thì xương,
da, máu của tay này vẫn tồn tại ở đâu đó; và chúng vẫn tồn tại ngay cả sau bạn. Xương bên trong thân thể bạn, chúng đã từng là
xương trong biết bao nhiêu thân thể khác
trước đây. Máu trong thân thể bạn đã chảy trong thân thể của con vật nào đó hôm qua và trong cây cối nào đó hôm kia. Ai biết được bao lâu, bao nhiêu tỉ, tỉ tỉ năm rồi cuộc hành trình đã diễn ra?
Ngay cả khi bạn sẽ không có đó, không một hạt của thân thể bạn bị triệt tiêu. Nó tất cả sẽ tồn tại. Nó sẽ trôi vào trong thân thể khác nào đó.
Hiểu điều đó theo cách này: hơi thở bạn vừa thở xong,
khoảnh khắc trước nó đã ở bên trong người ngồi cạnh bạn. Khoảnh khắc trước người đó đã gọi nó là hơi
thở của tôi,
và khoảnh khắc sau
nó không còn thuộc vào người đó chút nào nữa, nó
đã trở thành của ai đó khác.
Cuộc sống không chấp nhận đòi hỏi của bất kì
ai về nó và cứ chảy đi từng khoảnh khắc. Nhưng chúng ta cứ đòi hỏi. Ảo tưởng này
về đòi hỏi, đây
là ảo tưởng sâu
sắc nhất của con người.
Cho
nên bất kì khi nào một người nói ‘của tôi’, người đó rơi vào trong dốt nát. Kinh này là để phá vỡ chính ảo tưởng
này. Không chỉ đất
không phải là của tôi,
nhà không phải là của tôi,
tiền bạc
không phải là của tôi
- ngay cả thân thể này cũng không phải là của tôi nốt. Thân thể bạn được tạo nên từ các nguyên tử của bố mẹ bạn. Các nguyên tử đó tồn tại trước khi có bạn, và
chúng đến với bạn sau cuộc hành trình dài. Trước bố mẹ bạn, chúng đã ở trong
thân thể
bố
mẹ
họ. Những
nguyên tử này đã có cuộc hành trình dài hàng triệu năm;
bây giờ chúng thiết lập nên thân thể bạn. Thân thể đó nữa cũng là cánh đồng, mảnh đất mà bạn được bắt rễ vào, nhưng
bạn không phải là nó. Bạn
không phải là thân thể, bạn tách biệt khỏi nó.
Kinh
này nói một người
không chỉ không là thân thể, nó thậm chí còn đi sâu hơn và nói con người thậm chí không phải là tâm trí, bởi vì
tâm trí cũng là một thứ tích
luỹ.
Bạn có một ý nghĩ nào mà có thể là của bạn
không, mà bạn có thể nói là của bạn không? Chẳng có
ý nghĩ nào cả. Một số ý nghĩ đến từ truyền thống, một số từ kinh
sách, một số từ nghe ai đó, một số thì từ việc đọc sách báo - chúng đã đến từ một hay nhiều nguồn ngoài khác. Nếu bạn tìm kiếm sơ
đồ sinh của từng ý nghĩ riêng lẻ, nếu bạn nhìn
vào cuộc hành trình của từng ý nghĩ riêng lẻ, bạn sẽ thấy bạn không có một ý nghĩ riêng nào của mình
cả, tất cả chúng đều là đồ vay mượn; chúng đã đến với bạn từ đâu
đó.
Không
một ý nghĩ nào đã bao giờ là nguyên bản, mọi ý nghĩ đều là
vay mượn. Nhưng chúng ta cứ cho
là ngay cả một ý
nghĩ cũng là ‘của tôi’.
Nhớ lấy, ngay cả một hơi thở cũng không thể gọi là ‘của tôi’ được; ý
nghĩ là vật chất tinh
tế hơn nhiều. Đi ngày càng sâu hơn vào trong phân tích này, người ta tới đâu? Upanishad đã đi đến đâu? Phật đi tới đâu? Mahavira đã tới đâu?
Tiếp tục phân
tích này, dùng kiểu phủ định, “Tôi không là cái này, tôi không là cái này”; khi
cuối cùng không còn lại cái gì để bị phủ định,
khi không còn gì về cái tôi thậm chí có thể nghĩ
liệu nó là của tôi hay không, cái còn lại ngay cả thế...
Khi không gì còn lại để cắt bỏ, khi tất cả các quan hệ đều bị phá vỡ và không có gì còn lại mà
có thể còn bị đập ra nữa, cái thậm chí còn lại như thế chính
là điều Upanishad đã gọi là sakshi, nhân chứng.
Có
một thế giới lớn quanh tôi - nó không phải là của tôi. Co lại, tôi tới gần hơn - thân thể này không phải là của tôi. Hạ sâu hơn vào trong nó - tâm trí này không
phải là của tôi.
Thế thì ai có đó cái người tôi có thể gọi là ‘tôi’? Hay không có gì trong tôi mà tôi có thể gọi là ‘tôi’. Tôi có hay tôi không có?
Cắt bỏ cái
‘của tôi’ đi trong sự toàn bộ của nó,
cái gì thuần khiết nhất còn lại bên trong? Chỉ có một điều còn
lại mà không bỏ đi được; không có cách nào bỏ nó đi được.
Ở phương Tây có một nhà triết học tên là Descartes - một nhà
tư tưởng sâu sắc. Ông ấy đã quyết định
không chấp nhận bất kì cái gì chừng nào
ông ấy còn chưa tìm ra chân lí không thể bị hoài nghi, cho nên ông ấy bắt đầu suy
ngẫm. Ông ấy lao động cần cù
và ông ấy cảm thấy mọi thứ đều đáng hoài nghi. Người ta
có thể nói, “Có Thượng đế,” nhưng rồi hoài nghi có thể nảy sinh về điều đó. Có thể có mà cũng có thể không
có Thượng đế, nhưng hoài nghi bao giờ cũng được tạo ra.
“Có cõi trời,” “Có giải thoát” - tất cả điều đó đều có
thể bị hoài
nghi. Descartes nói, “Tôi sẽ chỉ tin
vào điều không thể hoài nghi được,
không phải cái gì đó mà có thể chứng minh hay biện luận được về nó, không. Cái gì đó không thể hoài nghi được, cái
gì đó không tránh khỏi, không thể nghi ngờ được...
chỉ thế thì
tôi mới chấp nhận nó.”
Ông
ấy đã tìm kiếm và tìm kiếm. Tuy
nhiên ông ấy cũng đã dừng tại một điểm. Ông ấy phủ nhận Thượng đế, cõi
trời, địa ngục, và mọi thứ khác,
nhưng ông ấy mắc kẹt vào
một điểm:
“Tôi có hay tôi không có?”
Descartes
nói, “Điều này không thể hoài nghi được, bởi vì cho dù tôi nói ‘Tôi không có,’ thì thế nữa tôi vẫn cần phải có để có thể nói điều này.” Cũng tựa như một người đang trong nhà và trả lời người gọi,
“Tôi đã đi ra ngoài,” hay “Ngay bây giờ tôi
không ở nhà. Chút nữa hãy tới và thế thì tôi có thể gặp anh bởi lúc đó tôi sẽ về nhà.” Chính việc nói điều này của người đó sẽ là bằng chứng cho việc người đó đang ở nhà. Cho nên sự kiện về con người tôi là không thể hoài
nghi được. Đến chừng nấy là rõ ràng, rằng tôi có, mặc dầu tôi là gì thì không được rõ
như thế. Tôi có là thân thể
không, có là tâm trí không, hay là gì? - điều này
không được rõ ràng đến thế.
Đây
chính là điều Upanishad đang tìm kiếm. Hết cái nọ đến cái kia bị vứt bỏ, hệt như
người ta bóc hết lớp nọ đến lớp kia của củ hành. Nếu bạn cứ bóc
mãi một củ hành,
cuối cùng không còn lại gì của củ
hành trong tay bạn cả. Củ hành không là gì khác hơn những tầng tầng lớp lớp vỏ - quần áo trên quần áo - và chẳng có
gì được tìm thấy nếu bạn cứ cởi mãi nó ra. Dường như
ai đó có thể đã làm một con búp bê vải và
chúng ta bỏ dần từng lớp vải. Tầng thứ nhất được cởi bỏ, tầng thứ hai lộ ra; tầng thứ hai được cởi bỏ, tầng thứ ba lộ ra;
và cứ như thế cho đến khi
mọi tầng vải cuối cùng đã được vứt bỏ hết, và không còn lại con
búp bê nữa, chỉ cái
không trong tay bạn.
Cho
nên tìm kiếm lớn nhất của con người là tìm ra liệu người đó nữa không là gì ngoài tích luỹ của nhiều, nhiều tầng mà ta có thể cứ bóc dần và đến cùng chẳng có
gì trong tay cả. Nếu
chúng ta cứ phủ nhận và nói, “Tôi không phải là
thân thể, tôi không phải là tâm trí, tôi không phải là cái này, tôi không phải cái nọ,” điều ấy có thể biến
thành câu chuyện củ hành,
và chung cuộc không còn lại gì về cái mà người ta có thể nói rằng “Đây là tôi.”
Nhưng Upanishad nói rằng cho dù có thế đi
chăng nữa, vẫn cần biết chân lí; cho dù đúng là không có
gì bên trong, vẫn đáng biết đến nó, vì kết quả của việc biết về chân
lí là rất có ý nghĩa. Tuy nhiên, khi tìm kiếm sâu sắc, cuối cùng
người ta lại thấy rằng không, con người không chỉ là
tích luỹ của các
lớp quần áo,
con người không chỉ là tầng nọ phủ lên tầng kia; còn có cái gì đó bên trong
các tầng khác nhau. Nhưng chúng ta chỉ đi tới biết điều đó khi, bằng
cách vứt bỏ mọi tầng, chúng ta đi vào bên trong bản thân mình. Phần tử đó, cái vẫn còn
đến cuối
cùng, được Upanishad gọi là sakshi, nhân chứng.
Từ sakshi này rất hay
và rất có giá trị. Toàn bộ triết lí,
thiên tài và trí huệ của phương Đông đều được bao hàm trong từ nhỏ bé này. Phương
Đông không có đóng góp từ nào quan trọng hơn
sakshi, nhân chứng, cho thế giới.
Sakshi
nghĩa là gì? Sakshi nghĩa là người thấy,
nhân chứng. Đấy là
ai, người đang kinh nghiệm rằng “Tôi không phải là thân thể”? Đấy là ai, người đang
kinh nghiệm rằng
“Tôi không phải là tâm trí”? Đấy là ai, người cứ liên tục phủ nhận rằng “Tôi không là cái này, tôi không
là cái này”? Có một yếu tố của việc
nhìn, của việc quan
sát, của người quan
sát bên trong chúng ta, người thấy, người quan sát mọi thứ.
Người thấy này chính là sakshi, nhân chứng. Cái được thấy chính là thế giới. Người đang thấy chính là người tôi
đang là, và cái đang được thấy là
thế giới.
Adhyas, ảo tưởng,
nghĩa là người đang thấy hiểu lầm bản thân mình là tất cả những cái được thấy. Đây là ảo tưởng.
Có
viên kim cương trong
tay tôi: tôi đang thấy nó. Nếu tôi bắt đầu nói
rằng tôi là viên kim cương, đó là ảo tưởng. Ảo tưởng này phải bị tan vỡ và người ta cuối cùng phải đi tới phần tử thuần khiết đó
cái bao giờ cũng là người thấy và không bao giờ là cái được thấy. Điều này có đôi chút khó khăn. Người mà là người thấy không bao giờ có thể được thấy, bởi vì điều đó sẽ được thấy bởi ai?
Bạn có thể thấy mọi thứ trong thế giới ngoại trừ bản thân bạn. Làm sao bạn thấy được bản thân mình? - bởi vì
hai điều sẽ được cần tới cho
việc thấy: một là người thấy và
điều kia là cái được thấy. Chúng ta có thể kẹp mọi thứ với một cái
kẹp ngoại trừ bản thân cái kẹp đó. Nỗ lực đó sẽ thất bại. Chúng
ta có thể thấy
thách đố là trong khi cái kẹp cặp được mọi thứ, tại sao
chúng không thể kẹp được bản thân chúng?
Chúng
ta thấy mọi thứ, nhưng
chúng ta không có khả năng thấy bản thân mình. Và chúng ta sẽ không bao giờ có khả năng làm được như vậy. Bất kì cái gì bạn có
thể thấy, biết rõ rằng cái đó không phải là bạn. Vậy một điều chắc chắn, rằng bất kì
cái gì bạn có khả năng thấy đều
không phải là bạn. Nếu bạn có khả năng thấy Thượng đế, thế thì một điều đã trở thành chắc chắn, rằng bạn không phải là
Thượng đế. Nếu bạn đã thấy ánh sáng bên trong bạn, một điều xác quyết là bạn không phải là ánh sáng đó. Nếu bạn có kinh nghiệm về phúc lạc bên trong mình, một điều dứt
khoát là bạn không phải là phúc lạc đó.
Bất kì cái gì đã được kinh nghiệm, bạn đều không là cái đó. Bạn là cái đang kinh nghiệm.
Cho
nên bất kì cái gì trở thành kinh nghiệm của bạn, bạn ở bên ngoài nó cả. Do
đó sẽ có ích để hiểu một điểm khó khăn ở đây:
tâm linh không phải là kinh nghiệm. Mọi thứ trong
thế giới này
đều là kinh nghiệm, nhưng
không phải là tâm linh. Tâm linh vươn tới cái
kinh nghiệm tất cả, nhưng
bản thân nó không bao giờ trở thành kinh nghiệm. Nó bao giờ cũng
còn là người kinh nghiệm, nhân chứng, người thấy.
Tôi
nhìn bạn: bạn ở phía này, tôi ở phía
kia. Bạn ở đó,
người được
nhìn; tôi ở đây, người đang nhìn. Có hai thực thể. Không có cách nào phân chia bản thân người ta
thành hai để cho một phần nhìn và phần kia
được nhìn. Ngay cả nếu có khả năng phân chia, thế thì
phần sẽ thấy là bản thân tôi, phần sẽ được thấy sẽ không phải là bản thân tôi. Vấn đề kết
thúc.
Đây
là toàn bộ quá trình hay phương pháp luận của Upanishad: neti, neti - không cái
này không cái kia. Bất kì cái gì có thể được thấy, nói
rằng bạn
không phải là cái đó. Bất kì cái gì có thể được kinh nghiệm, nói
rằng bạn
không phải là cái đó. Bạn có thể cứ bước lùi mãi cho đến khi
chẳng cái gì còn lại mà có thể bị phủ nhận hay
khử bỏ. Một khoảnh khắc tới khi tất cả cảnh đều mất. Một khoảnh khắc tới khi mọi kinh nghiệm đều bị vứt bỏ - tất cả!
Nhớ lấy, tất cả! Kinh nghiệm về dục tất
nhiên bị vứt bỏ, kinh nghiệm về thiền cũng bị vứt bỏ. Kinh
nghiệm về thế giới, về yêu
và ghét bị vứt bỏ, kinh nghiệm về phúc lạc và chứng ngộ cũng bị vứt bỏ. Chỉ người thấy thuần khiết còn lại. Không còn gì ở đó để được thấy nữa, chỉ trống rỗng còn lại khắp xung
quanh. Chỉ có người quan sát còn lại, và
bầu trời trống rỗng khắp xung
quanh. Đứng ở giữa là người thấy, người quan sát, người thấy cái không, vì mọi thứ đã bị phủ nhận và khử bỏ là
cái có thể được thấy. Bây giờ người đó kinh nghiệm cái
không. Người đó đã vứt bỏ mọi kinh
nghiệm khỏi con
đường của
mình. Bây giờ người đó
còn lại một
mình, người đang kinh nghiệm.
Khi
không có kinh nghiệm, không có việc thấy; không có gì được thấy và không có đối thể để được thấy, và nhân chứng một mình còn lại. Rất khó diễn đạt trong ngôn ngữ cái gì thực sự xảy ra, bởi vì chúng ta không có từ nào
khác ngoại trừ từ ‘kinh nghiệm’
trong ngôn ngữ của
mình; do đó chúng ta gọi nó là ‘tự kinh nghiệm’ hay
‘tự nhận ra’.
Từ kinh nghiệm không đúng. Chúng ta nói “kinh nghiệm về tâm thức” hay “kinh nghiệm về Brahman, cái tuyệt đối,” nhưng
không một cách diễn đạt nào là đúng, vì từ kinh nghiệm thuộc về cùng thế giới mà chúng ta đã khử bỏ. Từ kinh
nghiệm quả có
nghĩa trong thế giới nhị nguyên, nơi
có cả ‘cái kia’ nữa. Tại đây nó không có nghĩa chút nào. Tại đây chỉ có người kinh nghiệm còn
lại, nhân chứng còn lại.
Tìm
kiếm về nhân
chứng này chính là tâm linh.
Nhớ lấy: tìm kiếm về Thượng đế không phải là
tâm linh. Trong kinh yoga cổ đại Thượng đế không được bàn tới, thậm chí
không được nhắc tới; không cần. Sau
này, ngay cả khi kinh có nhắc tới Thượng đế, họ gọi Thượng đế là phương tiện
trong cuộc hành trình tâm linh và không phải là mục đích. Người ta nói rằng Thượng đế là có ích trong thực hành tâm linh, trong tìm kiếm tâm linh, do đó chấp nhận Thượng đế cũng
tốt; nhưng đấy chỉ là phương tiện, phương sách, có vậy thôi.
Phật và Mahavira cũng phủ nhận Thượng đế. Họ đã phát minh ra một phương sách mới. Phương
sách này là không được cần tới, họ nói. Nếu Thượng đế không
là gì ngoài phương sách,
thế thì các phương sách khác cũng sẽ phục vụ cho mục đích đó được. Nhưng
cả Phật lẫn Mahavira đều
không thể phủ nhận sakshi, nhân chứng. Họ có thể phủ nhận Thượng đế, họ có thể phủ nhận mọi thứ khác,
nhưng khi đi tới sakshi, đấy là
tôn giáo. Nếu không nói gì đến nhân chứng, hiểu rõ rằng toàn bộ vấn đề không
có liên quan gì tới tôn giáo cả. Mọi thứ khác
đều là phụ. Mọi thứ khác
có thể hữu dụng, có thể không
hữu dụng; có
thể có khác biệt ý kiến về mọi thứ khác, nhưng không có khác biệt về nhân chứng.
Do
đó, nếu một ngày
nào đó trong thế giới này
khoa học về tôn
giáo được tạo ra,
sẽ không có việc nhắc tới Thượng đế, linh hồn hay Brahman. Đây toàn là những vấn đề cục bộ - một số tôn giáo tin vào chúng, số khác không tin - nhưng sakshi chắc chắn sẽ được nhắc tới bởi vì
nó không phải là vấn đề cục bộ.
Không
thể có được tôn
giáo mà không có nhân chứng. Cho nên một mình nhân chứng là
cơ sở khoa học cho mọi kinh nghiệm tôn
giáo - cho mọi tìm kiếm và hành trình tôn giáo. Và chính trên điều này và xung quanh sakshi này mà tất cả Upanishad xoay tròn. Mọi nguyên lí và mọi chỉ báo đều chỉ để trỏ tới nhân
chứng.
Chúng
ta cố hiểu điều này thêm chút nữa.
Không khó hiểu ý nghĩa của từ nhân chứng, nhưng
trong thực hành thực tế thì nó là điều phức tạp.
Tâm
trí chúng ta tựa như mũi tên, sắc nhọn một đầu. Bạn có thể đã từng thấy mũi tên: nó không thể được bắn đi từ cả hai đầu, mũi tên sẽ chỉ đi theo một hướng. Nó không thể đi theo hướng đối lập đồng thời được, nó sẽ chỉ đi tới mục tiêu theo một hướng. Cho nên, khi mũi tên đã lên cung và rồi được bắn đi,
có hai khía cạnh cần được xem xét - khi nó rời khỏi cung nơi
nó đã được đặt lên,
nó bắt đầu bay
đi khỏi cung; và nó bắt đầu tới gần hơn
hướng tới mục tiêu, nơi
nó chưa ở đó trước đấy. Một trạng thái là ở chỗ mũi tên đang trên cung, và xa trên
cây là con chim đậu. Mũi tên vẫn còn trên cung và chưa xuyên vào con chim. Thế rồi mũi tên rời khỏi cung, bắt đầu đi xa cung và lại gần con chim hơn.
Và rồi đến trạng thái mũi tên xuyên vào con chim; cung vẫn còn trơ
khấc không tên mà tên thì đang trong lồng ngực chim.
Đây
là điều chúng ta đang làm với nhận biết của mình trong toàn bộ thời gian. Bất kì
khi nào mũi tên của nhận biết của chúng ta rời khỏi chúng ta, cánh cung bên
trong trở thành trống
không và mũi tên, khi đạt tới đối thể, bị gắn vào nó. Một
khuôn mặt trông đẹp với bạn, mũi
tên nhận biết của bạn được
buông ra. Vì mũi tên đó không ở bên trong bạn, nhận biết đó
không ở bên trong bạn. Nhận biết đã rượt đi và gắn bản thân nó vào khuôn mặt đẹp.
Có
viên kim cương nằm trên đường;
mũi tên đã được buông ra từ cánh cung. Bây giờ nhận biết này không ở bên trong bạn, bây
giờ nhận biết di chuyển và,
đạt tới viên
kim cương, xuyên vào
trung tâm nó. Bây giờ nhận biết của bạn là với viên kim cương
và không còn bên trong bạn nữa. Bây
giờ nhận biết đang ở đâu đó khác. Cho nên mọi mũi tên của nhận biết của bạn đều đi ra ngoài và xuyên vào đâu đó
khác - và đâu đó khác, và đâu đó khác. Bạn
không có nhận biết bên
trong nữa, nó bao giờ cũng ra đi. Mũi tên chỉ có thể đi theo một hướng, nhưng
nhận biết có
thể đi theo hai hướng - và khi điều đó xảy ra nhân chứng được kinh nghiệm. Mũi
tên của nhận biết có thể đi theo cả hai hướng; nó có thể có hai đầu.
Khi
nhận biết của bạn bị kéo
ra đâu đó, nếu bạn có
thể quản lí được chừng này thôi, thế thì một ngày nào đó nhân chứng sẽ xảy ra
bên trong bạn. Khi chú ý của bạn bị kéo
ra ngoài - chẳng hạn một cô gái trẻ đẹp đi qua hay một
chàng trai trẻ đẹp đi
qua, nhận biết của bạn bị bắt theo đó và bây giờ bạn hoàn toàn quên mất bản thân mình. Nhận biết không còn ở bên
trong nữa. Bây giờ bạn không ý thức: bây giờ bạn trở thành vô ý thức, bởi vì tâm thức của bạn đã
đi tới ai đó khác. Bây giờ tâm thức của bạn đã trở thành cái bóng của người đó hay vật đó - bây giờ bạn không còn ý thức nữa.
Bây
giờ, nếu bạn có thể làm được một điều
này... Bạn thấy ai
đó đẹp, nhận biết của bạn bị kéo ra đó. Nếu
trong cùng khoảnh khắc đó bạn có thể nhận biết về cánh cung bên trong mà từ đó mũi tên được bắn ra, nếu bạn có
thể đồng thời thấy được
chúng cả hai - nguồn gốc từ đó nhận biết được bắn ra và đối thể mà nhận biết đang
đi tới - nếu
chúng cả hai đều đến trong chú ý của bạn một cách đồng thời, thế thì lần đầu tiên bạn sẽ kinh nghiệm cái được ngụ ý là
nhân chứng. Từ nơi nhận biết nảy sinh, từ nơi
nhận thức đang
bắn đi - nguồn đó phải được tìm
thấy.
Chúng
ta thấy cây cối - chúng ta thấy cành
cây, tán lá, lá cây và hoa, quả, nhưng chúng ta không thể nào
thấy được rễ cây. Rễ ẩn kín
dưới đất tối. Nhưng
cây đang hút chất dinh dưỡng từ rễ. Nhận biết của bạn mở rộng và
đi khắp xung quanh; cây lớn về thế giới được tạo ra,
nhưng cội nguồn từ đó nhận biết toả ra,
tâm thức đại dương đó, vẫn còn chưa
được chú ý tới. Điều được cần là ở chỗ rễ cũng đồng thời được thấy, cả rễ và cây đồng thời được thấy.
Hiểu điều đó theo cách này: khi tôi đang
nói, nhận biết của bạn là trên lời tôi. Làm điều này
thành mũi tên nhắm hai điểm... điều đó có thể trở thành đúng ngay bây giờ, chính khoảnh khắc này. Khi tôi đang nói, đừng chỉ lắng
nghe điều tôi đang nói, duy trì cả nhận biết đồng thời rằng bạn đang lắng nghe. Diễn giả là ai đó khác, người đó đang nói; tôi là thính giả, tôi đang nghe. Nếu cho
dù chỉ một khoảnh khắc, bây giờ, ở đây, bạn có thể xoay xở cả hai điều đồng thời - lắng nghe cũng như
luôn nhớ tới
thính giả, việc ghi
nhớ này ở bên
trong rằng, “tôi đang lắng nghe” - thế thì
không cần phải lặp lại lời này.
Nếu bạn lặp lại lời này,
“tôi đang lắng nghe,” bạn sẽ không có khả năng lắng nghe được đồng thời nữa, bạn sẽ lỡ mất điều tôi
nói. Không cần phải hình
thành lời nói bên trong, “Tôi đang lắng nghe, tôi đang lắng
nghe.” Nếu bạn làm
việc đó bạn sẽ thành điếc với những điều tôi
đang nói trong khoảng thời gian
đó. Trong khoảnh khắc đó
khi bạn nghe tiếng nói riêng của mình
rằng, “Tôi đang lắng nghe,” bạn sẽ không nghe điều tôi
đang nói.
Đó
là kinh nghiệm đồng thời lắng nghe điều tôi đang nói và cũng nhận biết rằng bạn đang
nghe. Cảm giác, việc nhận ra, kinh nghiệm rằng bạn là
thính giả, là khía cạnh thứ hai. Việc đạt tới nhận biết của khía
cạnh thứ hai
là khó khăn. Nếu bạn có
thể xoay xở được việc đó,
trở nên nhận biết về khía
cạnh thứ ba là
rất dễ dàng.
Khía
cạnh thứ ba là
thế này: nếu diễn giả là A,
thính giả là B, thế thì ai là người đang
kinh nghiệm cả hai,
cả diễn giả cũng như
thính giả? Người đó
là người thứ ba,
và điểm thứ ba
này là nhân chứng. Bạn
không thể đi ra ngoài người thứ ba này. Người thứ ba này là điểm cuối cùng. Và tất cả ba người này là ba điểm của tam giác cuộc sống: hai điểm là đối thể và chủ thể, còn điểm thứ ba là
nhân chứng của hai
điểm này, người kinh nghiệm cho
hai điểm này, người thấy hai điểm này.
Bây
giờ chúng ta có thể hiểu kinh.
Biết bản thân mình là sakshi pratyagatma,
linh hồn chứng kiến bên trong về trí
năng người ta và tất cả những
khuynh hướng của nó,
và thu được khuynh hướng rằng “Cái đó là tôi,” từ bỏ đòi hỏi ‘của tôi’ với mọi vật.
Người tìm kiếm, người thám
hiểm chân lí này, người khao khát về giải thoát, đã kinh nghiệm rằng “Tôi là nhân chứng” và
chưa bao giờ là người làm, rằng “Tôi vẫn là
nhân chứng” và chưa bao giờ là người đam mê, bỏ đi cảm giác về ‘cái của tôi’ và ham muốn về mọi thứ. Người đó cứ lùi
xa dần vào bên trong tới điểm vượt ra
ngoài mà không thể nào lùi xa hơn được nữa.
Từ bỏ theo đuôi lok, xã hội...
Người như
vậy dừng việc theo đuôi xã hội. Từ lok có nghĩa là xã hội, văn
hoá, văn minh, những người xung
quanh bạn, đám đông. Từ bỏ theo đuôi xã hội trước khi bạn có kinh nghiệm về nhân chứng cũng là điều nguy hiểm, bởi vì với xã hội có
liên kết đạo đức, luật lệ, qui
định, giới hạn, tổ chức và kỉ luật. Cho nên xã hội chắc chắn sẽ trở thành chủ cho những người chưa phải là
chủ của
chính mình. Ai đó phải kiểm soát
người còn chưa là chủ của riêng mình; kỉ luật nào đó là cần thiết, nếu
không thì mọi hệ thống sẽ nổi loạn, sẽ trở thành
vô chính phủ. Nhưng người đã kinh nghiệm bản thể riêng
của mình, người đã kinh nghiệm việc chứng kiến của mình, bản thân
người đó là người chủ của
riêng mình trong thế giới này.
Điều rất thú vị là người vứt bỏ mọi việc làm
chủ trên mọi thứ trở thành
người chủ của riêng mình; còn người cứ tích luỹ mọi kiểu làm chủ, người đó
chỉ chứng tỏ rằng người đó
còn chưa làm chủ được cái ta riêng của mình. Điều này
nghĩa là người đang bận bịu cố gắng có thêm nhà cửa, đất đai, vương
quốc, cái này cái nọ - một điều là
chắc chắn, rằng người đó còn chưa thuộc về bản thân mình, bởi vì với người đã
thu được vương quốc bên trong của mình, mọi vương quốc khác
đều trở thành
vô vị và vô giá trị.
Người đã thu được vương quốc bên
trong của mình không còn có bất kì ham muốn nào
với bất kì vương quốc nào
khác. Cho dù người đó có vương quốc bên
ngoài, nó cũng trở thành vô giá trị. Nếu ham muốn của người đó về vương
quốc bên ngoài còn mạnh mẽ, điều đó
chỉ chứng tỏ rằng người đó
còn chưa có ý tưởng chút nào về làm
chủ bên trong, về nhân chứng; người đó đang cố gắng thay thế cho
nó. Không có người chủ bên
trong, cho nên qua việc thu được quyền làm chủ với mọi thứ, người đó đang cố gắng tự thuyết phục bản thân
mình rằng người đó
là chủ: “Trông đây! Ta đã có biết bao đất đai, biết bao tiền bạc, biết bao của cải!” Bằng cách làm như
vậy người đó
đang cố gắng tạo ra tin tưởng bên
trong bản thân mình rằng, “Ai nói ta không phải là
chủ? Ta là chủ của nhiều thứ chứ!” Cái làm chủ này là giả, bởi vì không ai đã bao giờ là chủ mọi thứ trong
thế giới này.
Bhartrihari
từ bỏ vương quốc của mình: ông ấy bỏ lại vương quốc, đi vào rừng và bắt đầu thiền sâu sắc. Sau này, một biến cố rất thú vị đã xảy ra.
Ông ấy đang ngồi gần cửa động; bỗng nhiên một kị sĩ trên đường xa phóng đến trước động. Gần như đồng thời một kị sĩ
khác cũng xuất hiện từ phía kia, gươm
tốt trần sẵn sàng cho trận chiến quyết tử.
Bhartrihari không thể hiểu được điều xảy ra bất thình lình này. Khi họ trỏ kiếm về một vật nào đó trên đường,
Bhartrihari
thấy rằng có
một viên kim cương ở đó. Kị sĩ thứ nhất nói
rằng mình đã thấy viên kim cương
trước, do đó nó là của người đó. Kị sĩ thứ hai nói, “Mi có thấy sự sắc bén
của lưỡi kiếm ta không? Mi có thấy sức mạnh cánh tay ta không? Ai trông thấy nó trước phỏng có
nghĩa lí gì? Bất kì ai xứng đáng là người chủ thì mới là người chủ. Lẽ tự nhiên, ta là người chủ!”
Một trận chiến quyết tử xảy ra
và trong thoáng chốc đầu của cả hai kị sĩ đã
lăn trên đất; cả hai
thân thể đẫm máu
nằm trên đất, còn viên kim cương lấp lánh vẫn nằm nơi họ đã thấy nó.
Bhartrihari
nghĩ sự việc này
thật kì cục quá!
Viên kim cương mà cả hai kị sĩ đều
tranh quyền làm chủ và đã chết vì nó
sẽ không bao giờ biết điều gì
đã xảy ra quanh nó, bởi vì nó. Và ai biết cái
gì khác có thể đã xảy ra
trong quá khứ quanh viên kim cương này? Còn viên kim cương thì vẫn nằm đó. Nhiều người nữa có
thể chết vì
nó trong tương lai, và
viên kim cương thì vẫn nằm đó, vô tình.
Nỗ lực làm chủ mọi thứ là một chỉ dẫn rằng người đang nỗ lực không làm chủ gì trên bản thân
mình cả. Bất kì
khi nào một người bắt đầu kinh nghiệm nhân chứng, người đó đều trở thành
người chủ riêng
của mình. Ham muốn về việc làm
chủ bị vứt bỏ; người đó
không còn muốn trở thành
chủ của bất kì ai hay bất kì
cái gì khác, bởi vì bây giờ người đó biết rằng đơn giản không có cách nào trở thành chủ của người khác. Để tôi
nhắc lại nó:
Không có cách nào trở thành người chủ của người khác.
Nếu chồng nghĩ anh ta là chủ của vợ, anh
ta điên. Nếu vợ nghĩg
cô ta là chủ của chồng, tâm trí cô ta cần được điều trị thuốc men. Không ai có thể là chủ của bất kì
ai, bởi vì mọi người đều được sinh
ra như người chủ của
riêng mình. Trong chính bản chất của mọi thứ, việc làm chủ của mọi người đều bị ẩn kín bên trong bản thân người ta.
Không vì một lí do gì mà điều đó có thể bị huỷ bỏ. Và
chừng nào nó còn chưa bị huỷ bỏ, làm sao bất kì ai khác có thể trở thành người chủ của nó?
Do
đó, một điều rất thú vị xảy ra.
Chồng nghĩ, “Tôi là chủ.” Vợ cười khẩy bên trong và cô ấy biết, “Tôi mới là
chủ.” Đó là lí do tại sao lại có va chạm hai mươi
bốn tiếng một ngày. Va chạm đó
là bởi chính lí do này, rằng từng khoảnh khắc cần phải quyết định ai là chủ, ai nắm quyền.
Không có chắc chắn.
Không bao giờ có chắc chắn cả. Vì không có chắc chắn ngay cả trong mối quan hệ với các vật, tuyệt đối
không thể có chắc chắn trong mối quan
hệ với các
cá nhân. Không thể có làm chủ ngay cả trên một viên kim cương,
làm sao có thể có làm chủ trên một cá nhân đang sống được?
Người là nhân chứng vứt bỏ mọi loại làm chủ, bởi vì
người đó đã trở thành người chủ riêng của mình. Việc làm chủ có thể có được, nó trở thành của người đó; việc làm chủ không thể có được - người đó không bận tâm
rơi vào cái điên khùng
đó. Trong trạng thái như vậy người đó vứt bỏ bận tâm về xã hội; người đó vứt bỏ nó bởi vì bây giờ không
còn kiểm soát nào trên người đó, người đó
là người kiểm soát
riêng của mình. Bây giờ người đó có thể bước đi trên chân riêng của mình, bây giờ người đó có thể bước trong ánh sáng riêng của
mình, bây giờ người đó
không cần bất kì
ánh sáng vay mượn nào nữa.
Từ bỏ theo đuôi lok, xã hội, người đó từ bỏ theo đuôi cả thân
thể.
Người đó không chỉ dừng đi theo người
khác, khi việc nhận ra
nhân chứng sâu sắc hơn,
người đó vứt bỏ cả sự nô lệ vào thân thể nữa. Thế thì người đó không làm các điều vì
thân thể nói vậy, bây
giờ người đó
làm điều người đó
muốn và thân thể tuân theo người đó
như cái bóng.
Ngay
bây giờ thân thể bạn không tuân theo bạn như
cái bóng đâu; ngược lại, bạn tuân theo thân thể tựa như
cái bóng của nó. Thân thể chỉ đạo bạn làm mọi thứ hay
không làm mọi thứ, và bạn phải hành động tương
ứng.
Thân thể là người chủ, và nó có những chỉ báo riêng của nó kiểm soát bạn.
Nó
nhất định là
như vậy, vì bất kì ai không phải là người chủ riêng
của mình, xã hội sẽ là người chủ của người đó, sinh học của người đó sẽ là người chủ của người đó. Xã hội là một nhóm người
quanh chúng ta, và thân thể chúng ta được nối với đất, với tự
nhiên. Người đã trở thành người chủ của riêng mình trở nên tự do với hệ thống xã hội và cũng tự do với sinh học của
mình. Thế thì thân thể không bảo được người đó, “Làm cái này đi”; thế thì người đó đi theo cách riêng của mình và thân thể đi
theo.
Hiện tượng thân thể đi theo bạn là rất có giá trị.
Chúng ta thậm chí không thể quan niệm được làm
sao thân thể có thể đi
theo được. Chỉ khi
thân thể đói... cho dù đấy là thân thể của một Mahavira, ông ấy nữa cũng sẽ cảm thấy đói
chỉ khi thân thể đói trước hết; và
chỉ khi thân thể báo hiệu cái đói của nó Mahavira mới đi
tìm thức ăn, xin thức ăn. Cho nên làm sao thân thể tuân theo người ta được? Điều đó liệu có nghĩa là đột
nhiên Mahavira sẽ nói, “Tôi đói,” và thân thể sẽ trở nên
đói không?
Nghĩa
của việc thân
thể tuân theo là gì? Đó là thuật giả kim sâu sắc. Chắc chắn thân
thể sẽ không
đói chừng nào Mahavira không đồng ý. Bất kì cái gì xảy ra cho thân thể, bất kì cái gì nó cảm thấy, nó sẽ có khả năng
truyền đạt điều đó cho Mahavira chỉ khi
ông ấy sẵn sàng
lắng nghe. Chính Mahavira là người quyết định rằng ông ấy sẽ nhịn ăn trong một
tháng. Nếu bạn quyết định rằng bạn sẽ nhịn ăn
trong một ngày, trong hai mươi tư giờ bạn sẽ cứ ăn thức ăn
trong tâm trí, bởi vì thân thể sẽ phản đối, “Ai là chủ?
Không tư vấn ta... mà nhịn ăn
sao? Ta sẽ xem điều đó!” Thân thể sẽ cứ gửi
thông điệp trong cả ngày: đói, đói, đói; và toàn thể tâm thức của bạn sẽ bị bao
phủ bởi cái
đói. Thông thường thân thể sẽ không gây rắc rối cho bạn nhiều lắm nếu bạn không thể ăn được, cho dù đấy là cả ngày, nhưng bạn đã
quyết định vào
một sáng rằng bạn sẽ không
ăn ngày hôm đó, và...!
Điều rất thú vị xảy ra đáng chú ý. Nếu bạn vẫn ăn
hàng ngày vào một giờ trưa, thông thường thân thể bạn sẽ không báo cáo về cái đói cho tới một giờ. Nhưng nếu một sáng
bạn dậy lúc
sáu giờ và quyết định rằng hôm
nay bạn sẽ nhịn, tâm trí bạn sẽ bắt đầu có bữa trưa
ngay từ sáu giờ ngày hôm đó. Thân thể đáng
phải đợi ít
nhất đến một giờ chứ! Nhưng
không, thân thể đã nhận được hướng dẫn rằng bạn đang cố thiết lập quyền làm chủ. Một giờ là vấn đề còn
xa; thân thể bạn sẽ bắt đầu sách
nhiễu ngay từ sáng. Điều ấy chưa
bao giờ xảy ra
trước đây như thế này -
bạn quen cảm thấy đói quãng một giờ, nhưng hôm nay nó sẽ bắt đầu xảy ra
ngay từ sáng.
Việc làm chủ của thân
thể là điều cổ xưa,
hàng nghìn hàng nghìn kiếp sống. Và
bất kì ai là chủ, không ai muốn từ bỏ quyền làm
chủ một cách
dễ dàng đến thế.
Nếu Mahavira nói ông ấy sẽ nhịn ăn một
tháng, thân thể trở nên
im lặng trong một tháng; nó không trao đổi bất kì thông điệp đói
nào trong thời hạn đó.
Thân thể tuân theo, điều đó có nghĩa là nó không báo cáo. Nó sẽ báo cáo chỉ sau một tháng liệu nó
có đói hay là không; trong cả tháng nó sẽ còn im lặng. Nhưng điều này
nghĩa là gì? Nó có xảy ra qua thực hành được
không? Nếu bạn cứ thực hành hàng ngày - chỉ như
người ta tập thể dục hàng ngày, tương tự nếu bạn cứ thực hành nhịn đói
hàng ngày - thế thì thói quen sẽ dần hình thành không? Không, đừng rơi
vào ảo tưởng
này. Vấn đề không
phải là việc thực hành và thói quen, đấy là vấn đề của việc kinh nghiệm nhân chứng.
Nếu việc kinh nghiệm nhân chứng có
đó, nếu Mahavira quyết định nhịn
không chỉ một
tháng mà thậm chí cả năm... Thân thể có thể trở nên chỉ còn là bộ xương và chết và bị kết
thúc, nhưng nó sẽ không cần gửi bất kì thông điệp nào
cho Mahavira. Nó sẽ không dám trao đổi thông điệp cho
Mahavira rằng nó đang đói. Gửi thông điệp
không phải là việc của thân thể. Đấy là vấn đề giải quyết một lần cho mọi lần ai là chủ. Chừng nào mà thân thể biết rằng nó
còn là chủ, nó vẫn thực thi quyền làm
chủ, nhưng một khi nhân chứng đã được kinh nghiệm, quyền làm chủ của thân thể lập tức mất đi. Luật bên trong đơn giản thay
đổi. Thân thể bắt đầu tuân
theo bạn. Và thế thì có những
kinh nghiệm duy nhất.
Sau
Mahavira hàng nghìn người đã nhịn ăn - biết bao
nhiêu sư Jaina đang
tham dự nhịn ăn -
nhưng việc nhịn ăn của
Mahavira là duy nhất. Bạn đã
bao giờ nhìn thân thể Mahavira chưa,
tượng của ông ấy? Nếu bạn đặt thân thể của các sư
Jaina trước tượng của Mahavira bạn sẽ biết điều tôi
ngụ ý. Khác biệt là ở đâu? Thân thể các sư
liên tục báo cáo đói, không chỉ cho họ mà thậm chí
cho cả bạn nữa. Thân thể của Mahavira không báo cáo về đói nào - không báo cáo cho Mahavira mà cũng không báo
cáo cho bạn.
Rất khó tìm thấy một thân thể đẹp như
thân thể của
Mahavira. Thân thể đẹp trai
đó đang nói rằng bây giờ ai đó đã trở thành
người chủ bên
trong và thân thể không có năng lực nào quấy rầy. Bây
giờ thân thể không thể nói bất kì điều gì như “Làm cái này đi,” hay “Đừng làm cái đó.” Bây giờ không
còn mối bận tâm
về thân thể nữa; bây giờ mọi thứ là
trong tay người biết bên
trong. Bây giờ bất kì
điều gì người đó quyết định, bất kì cách nào người đó
quyết định, người đó đều có thể làm; quyết định là trong tay người đó.
Người đó có thể sống nếu người đó chọn sống, người đó có thể chết nếu người đó
chọn chết, nhưng thân thể không thể can thiệp vào được. Thân thể sẽ chỉ tuân
theo như cái bóng.
Từ bỏ theo đuôi lok, xã hội, người đó từ bỏ theo đuôi cả thân
thể. Từ bỏ theo đuôi kinh sách, người đó từ bỏ ảo tưởng cả về linh
hồn.
Vậy người ta cứ từ bỏ: xã hội,
thân thể, tuân theo kinh sách. Với người là nhân chứng, mọi kinh sách đều trở nên vô nghĩa. Điều này có đôi chút phức tạp. Chúng ta có thể nói
điều này theo cách đối lập lại nữa, rằng với người là nhân chứng,
kinh sách cũng trở nên có nghĩa. Và điều này là như
nhau. Lí do nó là như
nhau là ở chỗ chừng nào bạn còn chưa trở thành
nhân chứng, không kinh sách nào có thể có nghĩa cho bạn. Bạn có thể học thuộc lòng chúng, bạn có
thể thuộc lòng
mọi kinh Veda, nhưng chúng cũng không có nghĩa bởi vì ý nghĩa không nằm
trong lời mà trong kinh nghiệm. Kinh nghiệm này
không phải là của
riêng bạn. Bạn có
thể cứ lặp lại từ nhân
chứng như vẹt, nhưng thậm chí trong khi bạn lẩm nhẩm nó,
không có nhân chứng nào bên trong, người có thể lắng
nghe nó.
Chừng nào bạn chưa là nhân chứng mọi kinh sách đều vô dụng. Nhưng
chúng sẽ dường như có nghĩa cho tới khi bạn có cái biết của riêng mình. Cái ngày bạn có cái biết của riêng mình, bản thân
bạn trở thành
kinh sách. Khi bản thân bạn đã trở thành kinh sách, bây giờ bạn còn dùng gì kinh sách nữa? Vậy cái ngày kinh sách trở nên có nghĩa chúng cũng trở nên vô dụng nữa. Bây giờ bạn biết điều kinh
sách diễn tả. Bây
giờ kinh sách có giá trị gì? Bạn đã tới
đích; cuộc hành trình đã hoàn thành, cho nên
cần dùng gì tới bản đồ đó mà
bạn đã mang cho tới giờ? Bây giờ bạn có thể vứt bản đồ đi. Bạn sẽ làm
gì với nó bây giờ?
Phật hay nói rằng khi
ai đó đi qua sông trên một chiếc thuyền, lúc người đó
đã qua sông rồi thuyền
không có ích nữa. Người ấy bỏ lại chiếc thuyền ở đó và
đi tiếp. Nhưng Phật kể lại một câu chuyện: Có lần đã xảy ra
chuyện bốn
chàng ngốc qua sông trên một chiếc thuyền. Qua
sông xong họ lật úp
chiếc thuyền và bắt đầu vác trên đầu. Mọi người
trong làng nói với họ,
“Chúng tôi đã từng thấy rất nhiều người đi
qua sông này, nhưng tất cả họ đều bỏ lại thuyền ở đó tại
sông. Các anh làm cái gì thế này?”
Họ trả lời,
“Làm sao chúng tôi có thể bỏ lại chiếc thuyền đã từng có ích thế?
Chúng tôi đâu có là kẻ đần.”
Bây
giờ họ bị mắc kẹt.
Thuyền đã giúp họ vượt qua sông, nhưng bây giờ làm sao vượt qua
chiếc thuyền? Cho
nên họ bắt đầu mang chiếc thuyền đến mọi nơi họ tới. Bây giờ sự việc trở thành
không thể bỏ được chiếc thuyền.
Bạn đừng cho rằng những người như thế chỉ tồn tại
trong quá khứ. Họ có thể đã chết, nhưng con cháu họ vẫn còn đó và họ vẫn tiếp tục mang
chiếc thuyền. Họ nói, “Bố chúng ta đã mang cũng những kinh sách này và chúng ta cũng sẽ mang chúng. Bố của bố chúng ta cũng làm cùng việc đó; cho nên chúng ta có thể làm gì bây giờ?
- chúng ta bất lực. Những điều này bao giờ cũng
được đặt trên
đầu ông cha chúng ta, cho nên chúng ta
nữa cũng sẽ giữ nó trên đầu mình. Hơn
nữa, kinh sách này cũng là một loại thuyền, và
bao nhiêu hiền nhân đã từng có khả năng sang qua nhờ những chiếc thuyền
này!”
Cái
ngày người ta kinh nghiệm bản thân mình, không có gì còn lại để mà học từ kinh sách cả - và
điều này cũng đúng, rằng ngày đó kinh sách cũng trở thành có nghĩa. Thế thì đấy là điều chúng ta đi tới biết rằng những cái được viết trong kinh sách là đúng. Điều này sẽ dường như là phát biểu ngược đời:
ngày bạn biết mắt thấy tai nghe rằng điều mà kinh sách nói là đúng, từ ngày đó trở đi
kinh sách trở thành vô dụng, và người ta vứt bỏ nó đi. Người lữ hành tâm linh thực vứt bỏ tất cả các kinh sách.
Và
điều cuối cùng
được nói trong Upanishad là huyền diệu. Chỉ Phật mới có được dũng cảm đến thế và nói, “Ta không phải là
linh hồn.” Kinh này của Upanishad thật kì
diệu. Nó chứa toàn bộ tinh tuý của điều Phật đã
nói. Cuối cùng:
Từ bỏ theo đuôi kinh sách, người đó từ bỏ ảo tưởng cả về linh hồn.
Thế thì người đó thậm chí không nói, “Tôi là linh hồn.” “Tôi không là xã hội,”
đây là chỗ sự việc bắt đầu. Nó
đi sâu hơn khi nó nói,
“Tôi không là thân thể, tôi không là tâm trí.” Bây giờ đây là bước nhảy cuối cùng: “Tôi không là ngay cả linh hồn.” Điều này
nghĩa là gì? Điều này nghĩa là bây giờ tạo ra bất kì
biên giới nào cho bản thân tôi sẽ là
ngu xuẩn về phần tôi.
Khi
chúng ta nói “Tôi là linh hồn,” linh hồn tôi và linh hồn bạn trở thành các thực thể khác nhau. Khi tôi nói “Tôi là linh
hồn,” tôi trở thành một cá nhân, và toàn thể vũ trụ trở thành
tách biệt với tôi.
Ảo tưởng cuối cùng này cũng tan biến đi,
rằng tôi là tách biệt, tôi là một cá
nhân. Thế thì
mọi khoảng
cách và mọi biên giới giữa tôi và vũ trụ biến mất. Giọt nước trở thành
đại dương. Làm sao giọt nước thậm chí có thể nói “Tôi là giọt nước” được? Giọt nước đã trở thành đại dương.
Đến cuối cùng, khi mọi thứ đã biến mất, thậm chí cả ý tưởng rằng
“tôi là linh hồn” cũng bị vứt bỏ - và
điều này nghĩa là gì? Điều này không có nghĩa là không có linh hồn. Nó có nghĩa là “Ta là Thượng đế.” Là một linh hồn vẫn chưa đủ! Đây
là một tuyên bố rất khó khăn. Bất kì khi nào tuyên bố này được nêu ra, rắc rối nảy sinh.
Al-Hilaj
Mansoor đã tuyên bố với người Mô ha mét giáo, “Ta là Thượng đế.” Họ lập tức giết chết ông. Họ nói, “Ông nói điều tội lỗi làm
sao. Ông phạm phải tội lỗi làm sao! Ông mà là Thượng đế! Dù ông có đạt cao đến đâu, dù ông có trở thành một siddha vĩ đại đến đâu, người được hoàn thành, ông không thể là Thượng đế được, vì là Thượng đế có nghĩa là điều cuối cùng.” Con người được làm bằng đất...
và Mansoor lại đang nói về sự bay bổng cao
ngất đến thế. Không, điều ấy là không thể được.
Cho
nên họ chặt
Mansoor từng chi một. Trong khi Mansoor bị chặt ra ông ấy cười. Ai đó trong đám đông hỏi ông,
“Sao ông cười?” Mansoor đáp, “Ta cười vì ta đã nói rồi,
ngay từ đầu, rằng ta không phải là
cái mà những người này
đang chặt ra. Họ nghĩ họ đang chặt ai? Ta đã nói rồi, ‘Ôi
mấy cậu ngốc ơi,
ta đâu có phải là cái mà các cậu đang chặt.’ Chỉ có khi ta có thể nói
như thế, ta mwois đi tới biết rằng ta là Thượng đế.” Cho đến hơi
thở cuối
cùng, từ mồm của Mansoor vẫn có
những lời,
“Ana’l haq, ana’l haq,” nghĩa là, “Ta là Thượng đế, ta là chân lí,” vẫn vọng ra trong toàn bộ bầu không khí.
Có
một thầy tu
khổ hạnh
fakir tên là Sarmad. Ông ấy được người theo Sufi rất kính
trọng. Ông ấy là một trong số ít những người được lựa chọn, có
thể đếm trên
đầu ngón tay. Aurangzeb, vua Moghul của Ấn Độ, nghe
thấy đôi điều phàn nàn về
Sarmad, rằng ông ấy nói những điều kì lạ. Có một câu mật chú của người Mô
ha mét giáo, “Không có Thượng đế trừ mỗi Allah, chỉ có một Allah duy nhất.” Nhưng
Sarmad chỉ lặp lại nửa câu mật chú, “Không có Thượng đế, không có Thượng đế.” Bây giờ điều này đã làm thay đổi toàn
bộ ý nghĩa. Nó nghĩa là không có
Allah. Đấy quả là một việc hết sức nghiêm trọng!
Aurangzeb
triệu Sarmad đến và nói, “Ông tự cho
mình là thầy tu fakir, người yêu Thượng đế! Rồi ông cứ lặp lại
‘Không có Allah.’ Thế thì quá quắt lắm.”
Sarmad
đáp, “Tôi mới đạt tới độ xa này thôi. Tôi còn chưa du hành hết phần còn lại của lãnh thổ này. Bệ hạ đang
nói toàn bộ câu mật chú
‘Không có Thượng đế trừ mỗi Allah, chỉ có một Allah mà thôi.’ Tôi còn chưa đạt tới kinh nghiệm về câu mật chú đầy đủ chú này. Xin để tôi đi thêm nữa; dần dần, dần dần, có lẽ thôi có thể đạt tới. Nhưng tới giờ tôi chỉ có thể nói được ngần ấy
thôi. Và tôi không sẵn sàng nói dối. Mãi tới giờ tôi mới chỉ biết ngần này, “Không có Thượng đế.’ Phần còn lại - ‘trừ mỗi
Allah, chỉ có một
Allah duy nhất’ - tôi vẫn còn chưa
hiểu được. Xin
đợi cho một chút, tôi đang làm việc theo
hướng đó. Nếu bệ hạ đã hiểu được câu mật chú này một cách
đầy đủ, xin
nói như thế.”
Không
hoài nghi gì nữa đấy đã
là tội lỗi...
và người này là kẻ vô thần. Còn bao nhiêu người nữa sẽ bị ông ta làm hư
hỏng? Sarmad có danh tiếng lớn ở
Delhi. Hàng triệu người đến chạm vào chân người này, người nói,
“Không có Thượng đế.” Điều này được gọi là
phép màu - khi ai đó nói, “Không có Allah,” và hàng triệu người thấy
Allah trong ông ấy!
Điều đó đã xảy ra
như vậy; điều đó đã xảy ra như
vậy với Phật, nó đã xảy ra với Mahavira, nó đã xảy ra
như vậy với Sarmad. Mahavira quả quyết, “Không có Thượng đế,” và hàng triệu người gọi ông ấy là bhagwan, người được ân huệ. Phật nói,
“Không có Thượng đế lẫn linh hồn,” và hàng triệu người cúi đầu dưới chân ông ấy và yêu cầu ông ấy chỉ cho con đường và cách thức đạt tới chỗ không
có cả linh hồn và Thượng đế.
Sarmad
được Aurangzeb cho ba ngày để sửa lại sai
lầm của mình
và bắt đầu lặp lại đầy đủ phát biểu về câu mật chú; nếu không ông ấy sẽ bị chặt đầu.
Sarmad
nói, “Cái gì là cái đảm bảo của ba ngày? Tôi có thể sống, tôi có thể không
sống, và bệ hạ có thể bị mất mất cơ hội chặt đầu tôi. Cũng không có gì chắc chắn rằng
trong thời gian ba ngày tôi sẽ có thể đạt tới được hoàn toàn câu mật chú - chừng nào
mà tự tôi còn chưa đạt tới chân lí của toàn
bộ câu mật chú,
tôi không định lặp lại nó theo cách bệ hạ muốn. Tôi sẽ nói điều gì đó chỉ nếu nó là kinh nghiệm của tôi. Cho nên tốt hơn
cả là bệ hạ cứ chặt đầu tôi ngay bây giờ đi.”
Tương truyền Sarmad còn nói thêm, “Cũng có thể là khi bị chặt đầu cuộc hành
trình còn lại của tôi
có thể được hoàn
tất, phần cuối mà tôi không thể nào
biết được cho
tới tận bây
giờ. Có lẽ cái đầu tôi là vật cản trở.”
Người ta cũng hoài nghi rằng
Aurangzeb đã hiểu được mật chú. Hoàng đế và
thông minh không có quan hệ với nhau gì mấy. Aurangzeb đã chặt đầu Sarmad ngay ngày hôm đó. Tại Jama Masjid, tại
Delhi, Sarmad đã bị chặt đầu. Và khi đầu ông ấy rơi
trên các bậc của Jama
Masjid và bắt đầu lăn
xuống các bậc thềm thì ngưòi ta nghe thấy nó nói, “Không có Thượng đế trừ mỗi
Allah, chỉ có một
Allah mà thôi.” Hàng nghìn, hàng nghìn người chứng kiến nghe thấy điều đó.
Aurangzeb
hối hận lắm, nhưng
đã quá trễ. Khi ông ta hỏi đệ tử của Sarmad, họ cười và nói, “Sarmad đã nói cho chúng tôi, ‘Chừng nào ta còn sống,
cho dù theo cách nhỏ bé nhất, làm
sao có thể có việc nói
gì về phần thứ hai của câu mật chú được? Allah sẽ có trong ngày ta không có. Cái đầu này là chướng ngại nhỏ. Nếu nó bị cắt bỏ đi
thì cũng là tốt. Nó là chính kiểu của Aurangzeb mà ông ta đang cắt bỏ nó đi. Ta chắc sẽ tự xoay
xở điều đó,
nhưng điều đó phải mất thời gian. Aurangzeb làm cho công việc được làm nhanh hơn.’”
Khi
một người làm
tan biến bản thân
mình hoàn toàn, người đó thậm chí không nói rằng người đó có linh hồn. Thế thì ngay cả ảo tưởng cuối cùng
cũng bị vứt bỏ. Chừng nào mà bạn chưa
biết rằng bạn là Thượng đế, biết rõ rằng ảo tưởng vẫn còn đấy. Chừng nào bạn chưa
có chính kinh nghiệm, “Ta là Brahman, cái tối thượng,” hiểu cho rõ rằng dốt nát vẫn còn thịnh hành - và cứ vứt bỏ nó. Trở nên tự do với xã hội, trở nên tự do với thân thể, trở nên tự do với kinh
sách, và cuối cùng trở nên tự do với
chính cái ta riêng của bạn nữa.
Được bắt rễ vào
linh hồn mình, và thông qua các kĩ thuật, thông qua việc lắng nghe và thông qua tự kinh
nghiệm, nhà yoga nhận ra bản thân mình là linh hồn của tất cả và tâm trí của người đó bị triệt
tiêu.
Tâm
trí có thể bị kìm
nén - mặc dầu đấy là khó khăn. Tâm trí có thể bị che giấu - mặc dầu đấy là khó khăn. Nhưng
triệt tiêu tâm trí - đấy là điều cuối cùng
có thể được quản lí.
Cho
dù tâm trí bạn trở nên
tĩnh lặng, nó lại trở nên bồn chồn vào ngày hôm sau. Nó nảy sinh
trở lại mãi,
nó sống lại mãi;
nó mọc ra mãi - bằng cách nào đó hạt mầm của nó vẫn còn.
Dù chúng ta có thể thiền nhiều, cầu nguyện và tưởng nhớ tên Thượng đế, khoảnh khắc này chúng ta cảm thấy rằng mọi thứ ổn thoả cả rồi, khoảnh khắc sau chúng ta lại cảm thấy rằng mọi thứ lộn nhào
cả; đôi khi chúng ta cảm thấy rằng
đích đã tới, đây là chỗ ấy, rồi mọi thứ lại mất sạch.
Toàn
thể trò chơi này có vẻ giống trò con rắn và chiếc thang mà trẻ con vẫn chơi. Có cả rắn và
thang trong đó. Bạn trèo lên thang và rồi bỗng nhiên bạn đi tới mồm con
rắn nào đó và lập tức bạn tụt xuống mức thấp hơn.
Điều này cứ thế xảy ra -
trèo lên, tụt xuống. Việc tương
tự diễn ra
cho tâm trí. Đôi khi người ta cảm thấy rằng mình đã trèo lên, mọi thứ đều xuôn
sẻ, hoàn toàn tốt; người ta cảm thấy đã tới nơi, “Vậy đây là điều các thánh nhân đã từng nói
tới - đây chính là chỗ ấy, đây chính là trạng thái ấy - và mãi tới giờ mình mới có được nó!” Nhưng ngay khi bạn nhớ tới các
thánh nhân, bạn rơi vào mồm con rắn và tụt xuống để phát hiện ra rằng bạn lần nữa lại trở lại nơi bạn bắt đầu. Bạn cảm thấy những
thánh nhân này chắc hẳn phải nói dối, hay “Có lẽ mình bị ảo
giác; mình đã tưởng tượng ra
mọi thứ đều ổn, nhưng thực tế mọi thứ đều sai
cả.”
Quanh
tôi nhiều người đã
trèo lên thang và tụt xuống qua
mồm con rắn. Một hôm họ tới và báo cho tôi, “Thật là tuyệt diệu, phi
thường biết bao!
Bây giờ thực sự không còn lại gì
phải làm nữa.” Rồi sáng hôm sau họ quay lại, chán nản, quị hẳn. Lại thang và rắn vẫn đang đợi bạn.
Nhiều lần bạn cảm thấy tâm trí đã ra đi ổn thoả, và nó lại quay lại lần nữa. Bạn sẽ có được những thoáng nhìn. Cho dù nó biến đi chỉ một
thoáng chốc, bạn cũng
sẽ có thoáng nhìn nhỏ bên ngoài tâm trí. Cho dù nó đi xa khỏi con đường của bạn trong một chốc, không gian được tạo ra; bầu trời
quang đãng, cửa sổ đã mở ra và bạn thấy sao
trên trời. Nhưng điều này không kéo dài lâu. Nhà yoga trở thành siddha, người chứng ngộ, khi tâm trí bị triệt tiêu. Tâm trí bị triệt tiêu khi người ta kinh nghiệm rằng, “Tôi thậm chí
không là linh hồn.”
Chừng nào tôi cảm thấy rằng, “Đúng, tôi không phải là thân thể, tôi
không phải là tâm trí, nhưng tôi là linh hồn,” chừng nào còn có bất kì hỗ trợ còn lại cho cái ‘tôi’ của tôi,
tâm trí tôi vẫn còn sống sót dưới dạng hạt mầm của nó. Chừng nào vẫn còn hỗ trợ cho bất kì
cái gì còn lại, kể cả đó là linh hồn, tâm
trí tôi sẽ vẫn còn
dưới dạng hạt mầm của nó.
Bất kì khi nào một giọt mưa tới, hạt mầm đó sẽ vỡ tung
ra, mọc lên và bắt đầu phát triển thành cây.
Chỉ khi tôi không còn nữa tâm
trí mới dừng lại. Dễ dàng từ bỏ tiền bạc, dễ dàng từ bỏ địa vị, dễ dàng từ bỏ gắn bó với thân thể, dễ dàng từ bỏ gắn bó với tâm trí, nhưng nhiệm vụ khó nhất là phá vỡ gắn bó với
chính cái ta của mình, với chính cá nhân mình, với
chính sự tồn tại của mình. Nhưng ngay khi điều này bị phá vỡ, tâm
trí bị triệt
tiêu.
Sariputta
đến Phật. Ông
ta hỏi Phật,
“Làm sao tôi có thể được giải thoát?” Phật nói,
“Đừng tới ta,
đi chỗ khác đi - vì ta không thể giải thoát cho ông được, ta chỉ có thể giải thoát cho ông khỏi cái
‘ông’ này thôi.” Phật nói thêm, “Cái ‘tôi’ không bao giờ được giải
thoát. Người ta được giải thoát khỏi cái ‘tôi’. Cho nên nếu ông
đang tìm kiếm giải
thoát của ông, đi đâu đó khác đi. Nhưng có, nếu ông muốn giải
thoát khỏi bản thân
mình, ông đã đến đúng chỗ. Ta sẽ làm cho ông được tự do khỏi
chính mình. Vậy đừng hỏi bằng cách nào ông sẽ được giải
thoát. Ông sẽ không tồn tại trong giải thoát của
mình. Ông nên hỏi cách được tự do khỏi cái
‘tôi’ này - cách được giải
thoát khỏi cái ‘tôi’ này."
Do
đó Phật đã không chọn từ moksha, giải thoát, ông ấy đã
chọn từ niết bàn, nirvana. Với từ moksha còn có cảm giác
về ‘của
tôi’. Chí ít đến chừng này
vẫn còn lại, linh hồn sẽ vẫn còn lại - và ngồi trên
siddhashila, chỗ của người đã giải thoát, người ta sẽ tận hưởng việc giải
thoát. Cùng người đó, cùng người đang quản lí một cửa tiệm ở đây, bây giờ ngồi vào chỗ của người được giải
thoát trong thế giới của giải thoát, đang tận hưởng ở đó!
Mối quan tâm này vẫn còn ẩn nấp trong tâm trí bạn, rằng bạn sẽ còn lại. Nhưng cái gì có đó trong bạn đáng
giữ lại? Và
cái gì có đó trong bạn đáng phải giữ? Bạn đã
bao giờ nghĩ về nó chưa?
Bạn đã bao giờ xem xét cái bạn có
mà đáng giữ gìn vĩnh viễn không? Loại hương thơm nào bạn có mà bạn có thể nói rằng nó
nên còn lại mãi mãi? Loại giai điệu nào
bạn có mà bạn muốn làm cho nó thành bất tử? Cái gì có đó trong tính cách của bạn mà bạn muốn còn lại mãi mãi? Dường như
không có gì thuộc loại như thế bên
trong bạn cả.
Phật nói, “Điều này
nữa cũng là một loại ham muốn, thèm khát cuộc sống - rằng người ta
nên tồn tại,
không vì lí do nào hết cả. Dường như
không có lí do nào tại sao ông nên tồn tại. Cái gì trong ông mà, nếu được giữ lại, có thể có ích cho thế giới? Không có gì cả.”
Cho
nên Phật nói, “Không, từ giải thoát này không đúng”; và ông ấy chọn từ niết bàn.
Kinh
này là kinh về niết bàn.
Niết bàn có nghĩa là việc tắt đi của chiếc đèn. Khi chiếc đèn
bị tắt, bạn có biết ngọn lửa đã đi đâu không? Ngọn lửa không đi đâu cả, nó đơn giản dừng hiện hữu; nó
biến mất, nó
đơn giản hội nhập. Bây
giờ bạn sẽ không có khả năng
tìm thấy ngọn lửa đã tắt ấy ở đâu nữa. Không có đâu trong mọi thế giới,
không có đâu trong cái vô hạn mênh mông này, mà bạn có khả năng định vị ngọn lửa đã tắt đó. Nó đã hội nhập, nó đã hội nhập một cách
toàn bộ đến độ nó không thể nào được gọi lại từ cái vô hạn đó.
Nó đã đi sâu vào trong cái vô hình đến mức nó không thể lấy bất kì hình dạng nào nữa. Nó đã bị triệt tiêu.
Cho
nên Phật nói rằng bạn cũng sẽ bị triệt tiêu
đi, hệt như chiếc đèn bị tắt. Do đó ông ấy đã chọn từ niết bàn. Ông ấy nói,
“Ông sẽ đạt tới niết bàn - không phải là moksha, giải
thoát, mà là niết bàn. Ngọn lửa bập bùng
mờ nhạt
trong ông sẽ tắt ngấm.”
Điều này dường như có vẻ là việc rất đáng sợ. Thế thì
cái gì là mục đích của tất cả những điều này? Đổ thêm dầu vào đèn của bạn và giữ cho ngọn lửa cháy
mãi chăng? Cái gì thực sự là điều bản chất? Nhưng Phật nói
rằng khi bạn đã bị triệt
tiêu, chỉ thế thì bạn mới biết bạn là gì. Và khi bạn đã
biến mất, chỉ thế thì bạn mới biết rằng bạn không bị mất; bạn đã thu được tất cả, bạn đã trở thành tất cả.
Cho
nên linh hồn cũng bị vứt bỏ.
Không
trao cơ hội - tại bất kì
điểm nào - cho việc ngủ, cho chuyện trò của xã hội, cho
âm thanh, động chạm,
hình dạng, vị và
mùi - các đối tượng của giác quan - và sự quên
lãng về linh hồn, suy tư
về linh hồn bên trong ông.
Mọi thứ cứ bị vứt bỏ dần. Ngủ bị vứt bỏ, vô ý thức bị vứt bỏ. Chúng ta đã quên cái ta của mình - điều này
Upanishad gọi là ngủ. Việc quên lãng này về cái ta riêng của
chúng ta, chúng ta là ai, việc không biết gì về chân lí rằng “Ta là Thượng đế” - điều này Upanishad gọi là ngủ. Cái ngày giấc ngủ này không chiếm lĩnh chúng ta dù chỉ một khoảnh khắc thì
ngày đó không còn cách nào để vô ý thức nắm quyền nữa. Khi khói này không còn bao quanh chúng ta nữa, những đám mây này không còn lơ lửng treo
quanh và bầu trời trở thành không tì vết và
trong sáng và bóng tối do những đám mây này gây ra không bao giờ hạ xuống, thế thì có hồi tưởng thường xuyên.
Hồi tưởng cũng không phải là từ đúng. Mọi từ đều sai
để diễn tả cái Upanishad muốn nói.
Nhưng người ta không bất lực - không có cách nào khác ngoài việc dùng từ.
Nói
là ‘hồi tưởng’ là
không đúng, bởi vì từ hồi tưởng ngụ ý cái
gì đó trong quá khứ và cũng đã bị quên. Hồi tưởng thường xuyên ngụ ý cái
gì đó chưa bao giờ bị quên lãng.
Ngày
xưa đã có chuyện này: Có một nhà
huyền môn ở Tây Tạng tên là Naropa. Nhiều người hay tới ông ấy và họ rất lấy làm
phân vân, bởi vì người ta biết quá rõ rằng ông ấy đã hoàn toàn được hội nhập vào
điều thiêng liêng và họ chưa
từng nghe Naropa đã bao giờ nhớ đến tên
Thượng đế. Đệ tử của ông ấy thường hỏi
Naropa, “Mọi người nói
rằng thầy đã hội nhập vào điều thiêng liêng, nhưng sao không bao giờ thầy nhớ tới Thượng đế?” Tương truyền Naropa đã đáp lại, “Làm sao ta nhớ khi
ta chưa bao giờ quên? Và cái ngày ta bắt đầu nhớ Thượng đế, biết rằng
Naropa đã mất. Cái ngày ta nhớ, cái ngày ta gọi tên
Thượng đế, ông
cũng có thể hiểu rằng Naropa đã mất, rằng ông ta đã quên lãng và đã rơi vào trong giấc ngủ. Khi ta không rơi vào trong giấc ngủ, khi ta không bao giờ quên Thượng đế, làm sao ta nhớ được?”
Trong
trạ
ng thái như
thế
tứ
c là đi vào trong cái hang bí mậ
t tuyệ
t đố
i ở
bên trong tấ
t cả
chúng ta.