Osho - Ngón tay chỉ
trăng
Chương 2. Chúng ta trong cái đó!
Trong khoang tim, nằm
bên trong thân thể, những
kiếp sống
vĩnh hằng không sinh.
Đất
là thân thể của
nó, nó cư ngụ
trong đất nhưng đất
không biết về
nó.
Nước
là thân thể của
nó, nó cư ngụ
trong nước nhưng
nước không biết
về nó.
Ánh sáng là thân thể
của nó, nó cư
ngụ trong ánh sáng nhưng
ánh sáng không biết về
nó.
Không khí là thân thể
của nó, nó cư
ngụ trong không khí nhưng
không khí không biết về
nó.
Bầu
trời là thân thể
của nó, nó cư
ngụ trong bầu
trời nhưng bầu
trời không biết
về nó.
Tâm trí là thân thể
của nó, nó cư
ngụ trong tâm trí nhưng
tâm trí không biết về
nó.
Trí năng là thân thể
của nó, nó cư
ngụ trong trí năng nhưng
trí năng không biết về
nó.
Bản
ngã là thân thể của
nó, nó cư ngụ
trong bản ngã nhưng
bản ngã không biết
về nó.
Tâm trí lí trí là thân
thể của
nó, nó cư ngụ
trong tâm trí lí trí nhưng tâm trí lí trí không biết
về nó.
Cái
không biểu hiện là
thân thể của nó,
nó cư ngụ trong cái không biểu hiện nhưng
cái không biểu hiện
không biết về nó.
Cái
không huỷ diệt được là thân thể của nó, nó cư
ngụ trong cái không huỷ diệt được nhưng cái không huỷ diệt được
không biết về nó.
Cái
chết là thân thể của nó, nó cư ngụ trong
cái chết nhưng cái chết
không biết về nó.
Nó
là cái ta bên trong nhất của tất cả những yếu tố này, mọi tội lỗi của nó đều bị tiêu
huỷ, và nó là một thượng đế
thiêng liêng Narayana - người nâng đỡ cho mọi con người.
Thân
thể, giác quan, vân vân, là vật chất vô linh hồn, và cảm giác về ‘cái tôi’ về chúng
là adhyas - ảo tưởng.
Do
đó, người thông minh nên vứt bỏ ảo tưởng này qua trung thành với
Brahman - thực tại tuyệt đối.
Cá
trong biển vẫn còn
là kẻ xa lạ với biển cả,
không phải bởi vì
biển xa với cá
mà bởi vì biển quá gần. Bất kì
cái gì ở khoảng
cách xa đều được thấy nhưng
cái ở rất gần trở thành vô hình với mắt. Không khó biết khoảng cách, khó biết cái ở gần. Và
không thể nào biết được rằng cái
nào là cái gần nhất của cái gần. Để cho
điểu này được hiểu đúng đi, bởi vì nó là cái gì đó phải được biết cho cuộc hành trình bên trong.
Mọi người hỏi tìm
Thượng đế ở đâu. Họ hỏi,
“Làm sao chúng ta quên rằng cái nào đang bị che giấu bên trong? Làm sao cái đã bị tách ra ở gần chúng ta hơn
là nhịp tim chúng ta, ở gần ta hơn nhịp thở của chúng ta? Làm sao cái đã bị quên lãng là bản thân
tôi?” Và câu hỏi của họ dường như là logic.
Dường như
là điều họ đang
hỏi có tính hợp lệ và rằng điều đó không nên xảy ra giống thế này.
Nếu tôi không thể nào
biết ngay cả cái đang bị giấu kín trong tôi, nếu ngay
cả điều đó
tôi vẫn còn chưa biết, thế thì chúng ta sẽ biết ai khác, chúng ta sẽ nhận ra ai khác? Khi ngay cả điều gần gũi cũng còn trượt khỏi tay thì làm sao chúng ta có thể đạt tới cái ở xa được? Và không phải nó chỉ tới gần với chúng ta hôm nay; nó bao giờ cũng ở gần
chúng ta, từ thời vô tận. Thậm chí chúng ta chưa từng
tách biệt hay xa rời khỏi nó dù chỉ một khoảnh khắc. Dù chúng ta đi đâu nó cũng đi cùng chúng ta; bất kì chỗ nào chúng ta đi, nó đều đi cùng chúng ta. Nó du hành cùng chúng ta tới địa ngục cũng
như tới cõi trời; nó bên chúng ta trong tội lỗi cũng như trong đức hạnh. Nói rằng nó bên ta cũng chưa đúng, vì ngay cả ‘bên
ta’ cũng vẫn còn có khoảng cách. Thực tại bản thể chúng
ta và bản thể của nó là một và
cùng một thứ.
Nếu điều này đúng, thế thì chính phép màu lớn lao
trên thế gian là chúng ta đã đánh mất cái ta riêng của mình
- điều dường như là không thể có được. Làm sao người ta có thể đánh
mất cái ta riêng của mình được?
Không thể đánh mất được ngay cả cái bóng của
mình, và chúng ta đã đánh mất linh hồn mình. Làm sao điều này
có thể được? Nhưng điều này
đã xảy ra. Cách thức việc mất này
về cái ta xảy ra, đó là tinh hoa của kinh
này. Trước khi chúng ta đi vào trong kinh,
chúng ta cần hiểu những nền tảng cơ sở của nó.
Mắt có giới hạn về tầm nhìn, một miền. Nếu một vật bên ngoài miền đó mắt không thể thấy được. Nếu một vật nằm bên trong miền đó
nhưng quá xa về cả hai phía, thế nữa mắt cũng
không thể thấy được nó. Mắt có miền nhìn. Một vật được đưa tới quá gần mắt không thể được thấy và nếu nó bị đem ra quá xa nó cũng không được nhìn thấy. Bên
ngoài cả hai phía của miền nhìn nào đó, mắt không thể thấy được, thế thì
chúng là mù. Bây giờ, bạn đang
gần với bản thân bạn đến mức bạn không chỉ gần với mắt mà bạn còn ở đằng sau chúng - và đó là vấn đề.
Chúng
ta hiểu điều đó
theo cách này. Nếu bạn đang
đứng trước một tấm gương, ở một khoảng cách nào đó hình ảnh bạn rất rõ. Nếu bạn đi quá xa khỏi gương,
sẽ không có hình ảnh nữa. Nếu bạn lại quá gần gương,
gần đến mức bạn chạm mắt vào nó, thế thì bạn không thể thấy được hình ảnh mình chút nào. Nhưng ở đây tình huống là ở chỗ bạn đang đứng đằng sau
gương; do vậy không có khả năng
có bất kì hình ảnh nào của bạn
trong gương - mắt ngay phía trước và bạn ở sau chúng.
Mắt thấy cái ở trước chúng. Làm sao mắt thấy được cái ở sau
chúng được? Tai nghe thấy cái ở bên ngoài tai. Làm sao tai nghe được cái ở bên trong tai? Mắt mở hướng ra
ngoài, tai cũng mở hướng ra
ngoài. Tôi có thể chạm vào
bạn, nhưng làm sao tôi có thể chạm vào tôi được? Và
cho dù tôi có khả năng chạm vào thân thể tôi
thì đấy cũng chỉ vì tôi không là thân thể -
thân thể nữa cũng
là cái khác, do đó tôi mới có thể chạm vào nó. Nhưng làm sao tôi có thể chạm tới một người mà là tôi, một người đang chạm? Tôi có thể chạm vào bằng cái gì?
Do
đó tay chạm vào mọi thứ nhưng không thể chạm vào bản thân chúng. Mắt nhìn mọi thứ nhưng không thể nhìn được bản thân
chúng. Đối với cái
ta riêng của chúng ta, chúng ta mù; không một giác quan nào mà chúng ta đã biết có thể dùng được vào đây. Chừng nào
một số giác
quan khác còn chưa khai
mở - con mắt nào đó có thể nhìn
vào bên trong, nhìn ra đằng sau, theo chiều ngược lại, hay
tai nào đó có thể nghe được âm thanh bên trong - chừng ấy vẫn không có cách nào để cho chúng ta có thể thấy và nghe và biết bản thân mình. Cho đến khi
điều đó xảy ra
thì không có cách nào chạm vào bản thân chúng ta. Cái ở gần bị bỏ lỡ; cái ở gần nhất trong tất cả là không thể nào được biết. Đây là lí do tại sao cá không có khả năng
biết biển.
Điều thứ hai: cá được sinh ra trong biển, nó
sống trong biển; biển là thức ăn của nó, biển là nước uống của nó, biển là cuộc sống của nó,
biển là mọi thứ của nó. Thế rồi nó chết và tan biến
trong biển, nhưng nó không bao giờ có được cơ
hội để biết biển vì nó không có bất kì khoảng cách nào với biển. Tuy nhiên, cá đi tới biết biển là
gì nếu ai đó tới và vớt nó ra khỏi biển. Đây là điều rất mâu thuẫn: cá đi tới biết biển khi nó xa khỏi biển - khi nó đang giẫy dụa để sống còn trên cát dưới cái
nóng mặt trời, thế thì nó biết biển là gì. Để biết, khoảng cách như thế là cần thiết.
Làm
sao chúng ta có thể biết được cái một, cái đã tồn tại ngay trước khi chúng ta được sinh
ra và cái sẽ còn lại ngay
cả sau khi chúng ta chết? Làm sao chúng ta có thể biết cái một trong đó chúng ta được sinh ra và trong đó chúng ta sẽ tan biến đi? Để biết, phân cách nào đó là điều phải có. Đó là lí do tại sao cá không biết tới biển; chỉ khi
ai đó ném nó lên bờ thì nó mới nhận ra được.
Con
người đang trong khó khăn lớn hơn.
Điều thiêng liêng là đại dương
bao quanh chúng ta. Nó không có bờ nơi bạn có
thể bị vứt lên, nơi
bạn có thể bắt đầu quằn quại với nỗi đau như
con cá. Vấn đề sẽ rất dễ dàng
nếu có một bờ như
thế, nhưng không có bờ như thế. Thượng đế là đại dương. Đây là lí do tại sao những người đi
tìm Thượng đế như bờ không
bao giờ có khả năng
tìm được ngài. Bờ có sẵn chỉ đối với những người đã sẵn sàng đắm chìm trong đại dương của điều thiêng liêng.
Đơn thuần
không có bờ nào cho nên không có cách nào để tìm thấy nó. Làm sao có thể có được bờ? Mọi thứ khác đều có thể có bờ; cái
toàn thể không thể có bờ - vì cái gì đó khác được cần tới để tạo nên bờ. Bờ sông được tạo nên từ cái gì đó khác hơn
sông. Bờ của biển được tạo nên
từ cái gì đó khác hơn biển. Nhưng không có gì khác hơn Thượng đế để có thể tạo nên bờ.
Chính
ý nghĩa của Thượng đế là ở chỗ không
tồn tại cái
gì khác hơn nó. Thượng đế không có nghĩa là ai đó ngồi ở đâu đó trên trời và cai quản thế giới từ đó.
Không, đấy chỉ là
chuyện cho trẻ con. Điều được ngụ ý qua Thượng đế là ở chỗ phần tử khác hơn Thượng đế là không tồn tại. Đây là định
nghĩa khoa học về Thượng đế.
Thượng đế có nghĩa là cái toàn thể, cái toàn bộ, mọi thứ - bất kì
cái gì đang có. Cái mà không thể có bờ, vì
không còn gì khác hơn để tạo nên bờ. Do đó Thượng đế là mọi nơi; không có bờ. Người sẵn sàng chìm là được cứu. Người cố gắng để được cứu, bị chìm.
Chúng
ta ở trong nó. Chúng ta đang trong cái
chúng ta đang cố tìm ra.
Không
cần phải cầu tới người
chúng ta vẫn cầu, bởi vì thậm chí không có lỗ hổng nào để người ta phải cầu. Đó là lí do tại sao Kabir hỏi, “Thượng đế của ông
có bị điếc
không mà ông phải kêu ajan to thế?” Thượng đế ở gần đến mức thậm chí không cần phải cầu gọi ngài. Cho dù có im lặng bên
trong, điều đó nữa cũng
sẽ được ngài
nghe thấy - ngài ở gần thế. Nếu bạn phải cầu người khác, bạn phải nói. Nhưng để cầu bản thân mình, cần gì phải nói? Người ta có thể nghe
người khác chỉ khi lời nói được phát ra, nhưng
ngay cả im lặng của riêng người ta
cũng được nghe thấy.
Ở gần thế là khó khăn. Để điều này được hiểu cho đúng: chúng ta đã bỏ lỡ chân lí bởi vì chúng ta được sinh
ra trong nó. Thịt chúng ta, tuỷ chúng ta, xương
chúng ta, toàn bộ thân thể đều được làm
từ nó. Nó là hơi thở của chúng ta, cuộc sống chúng ta, mọi thứ. Theo nhiều cách
thức, qua nhiều cánh cửa, chúng ta là tổ hợp từ nó -
chúng ta là trò chơi của nó. Không có lỗ lổng chút nào, do đó không có kí ức; do đó việc hồi tưởng về nó trở thành không thể được. Do đó chúng ta thấy thế giới, nhưng chân lí không được thấy chút nào. Thế giới là ở khoảng
cách, có lỗ hổng giữa hai điều này; đó là lí do tại sao đam mê về thế giới nảy
sinh.
Nghĩa
của đam mê là gì? Đam mê nghĩa là ý định khép lại khoảng cách giữa bạn và đối thể mà từ đó bạn có cảm giác
về khoảng
cách. Không có đam mê về Thượng đế bởi vì không có khoảng cách giữa bạn và Thượng đế. Hay
ngay cả ai đó dường như
đi tìm Thượng đế, đấy có vẻ là một đam
mê giả. Người đó dường như
đi tìm cái gì đó khác nhân danh Thượng đế. Người đó làm Thượng đế trở thành
cái cớ nhưng người đó muốn cái gì đó khác. Có thể người đó muốn quyền lực, có thể người đó
muốn danh vọng, của cải, địa vị hay cái gì đó khác.
Một người bạn tới và bảo tôi, “Từ lúc tôi bắt đầu cuốn hút bản thân mình vào kinh nghiệm thiền trong trại của thầy, tôi đã được lợi nhiều lắm.”
Tôi
hỏi, “Bạn được lợi gì?”
Anh
ta trả lời, “Lợi ích tâm linh không có đâu nhưng lợi ích
tài chính bắt đầu!”
Rất tốt! Đâu cần hấp tấp về tâm linh? - nó có thể để hoãn lại dịp
khác. Lợi ích tiền bạc là nhu cầu tức khắc!
Chúng
ta tìm kiếm cái gì đó trong khi chúng ta gọi nó là cái gì đó khác. Bất kì ở đâu chúng ta đã đặt nhãn
Thượng đế lên,
nếu chúng ta xé bỏ cái nhãn đó đi chúng ta sẽ thấy cái gì đó khác ẩn bên dưới. Chúng ta muốn cái gì đó khác. Người muốn cái gì đó khác nhân danh Thượng đế là người kém trung thực hơn người công
khai tìm kiếm hoan lạc trần thế. Chí
ít còn có trung thực, đích thực. Người này nói, “Tôi muốn tiền bạc,” người kia nói, “Tôi muốn hoan
lạc dục,” rồi người khác lại nói, “Tôi muốn địa vị, tôi muốn đáp ứng bản
ngã,” và còn có người nói, “Tôi muốn Thượng đế,” nhưng trong ham muốn này về Thượng đế còn có cả cảm giác của người đó rằng một ngày nào đó người đó sẽ chứng tỏ cho thế giới rằng Thượng đế nữa cũng là trong nắm tay
người đó.
Do
đó, quan sát người tìm kiếm Thượng đế một cách cẩn thận vào.
Nếu bản ngã
của người đó
tăng lên, hiểu rằng việc tìm kiếm của người đó vì cái gì đó khác; nếu bản ngã của người đó
giảm đi, tan tành, biến mất thì việc tìm kiếm của người đó mới thực sự là vì Thượng đế.
Tính
tự phụ của sannyasin và cái gọi là
các thánh nhân của bạn được biết rõ; thậm chí tính tự phụ của chính khách lớn cũng không có chỗ đứng nào so với nó.
Ít nhất chính việc tìm kiếm của
chính khách là để dành cho cái tự phụ đó, cho nên nó là thoả đáng; nó là một vấn đề dứt
khoát, không có gì giả trong đó cả. Trò vui về việc là cái gì đó đặc biệt là toàn bộ trò
chơi với họ. Nhưng với thánh nhân vấn đề lại
khác. Ông ta nói rằng ông ta đang tìm kiếm việc là cái không... và thế rồi ông ta cứ trở thành cái gì đó. Nếu hai thánh nhân gặp
nhau, họ không thể được để ngồi cùng một bục bởi vì sẽ có vấn đề ai ngồi đâu, cao hơn hay thấp hơn.
Cho nên thông thường các thánh nhân đơn thuần
không gặp lẫn
nhau, vì nhiều vấn đề nảy sinh.
Có
một người bạn hơi
chút lập dị - lập dị theo nghĩa là người đó cố gắng thu
xếp cho các thánh nhân gặp lẫn nhau.
Một lần người đó bảo tôi rằng có những vấn đề lớn nổi lên bề mặt. Ngay cả vấn đề như ai nên đưa tay ra trước để chào đón cũng phát sinh. Một tình huống khó
khăn. Ngay cả phàm nhân cũng không có vẻ trần tục đến thế. Họ có thể không muốn đón
chào ai đó bằng việc chắp tay, vậy mà họ cứ làm điều đó. Trong tâm trí, họ có thể nghĩ rằng giá mà người kia
chắp tay trước thì tốt hơn, nhưng
họ che giấu cảm giác đó; nó có vẻ không hào hiệp. Với một số thánh
nhân điều ấy dường như
là không hào hiệp - những
thánh nhân đó thậm chí còn không đáp ứng với việc chào
đón, họ đã dừng
ngay việc thu xếp gặp gỡ. Họ chỉ ban ân huệ.
Người bạn đó rất bận thu xếp cuộc gặp gỡ cho thánh nhân nọ với thánh nhân kia. Thánh nhân kia
nói, “Mọi thứ khác
đều tốt cả, nhưng
nếu tôi không đón chào ông ta và ông
ta lập tức lại ban cho tôi ân huệ thì
điều đó sẽ làm hỏng mọi thứ.”
Tìm
kiếm của
chúng ta là về cái gì đó khác, nó chẳng liên quan gì tới tôn
giáo hay với điều
thiêng liêng. Chúng ta ham muốn cái gì đó khác, chúng ta yêu cầu điều gì đó khác, nhưng chúng ta không trung thực và chúng ta che phủ bản thân mình bằng những yêu sách khác. Làm sao việc tìm kiếm Thượng đế bắt đầu được? - bởi vì không có khoảng cách. Nếu có
khoảng cách, đam mê nảy sinh. Nếu có
khoảng cách, người ta cảm thấy
thích chạy. Nếu
có khoảng cách,
ham muốn nảy sinh
để thắng. Nếu có khó khăn, bản ngã
trở nên quan tâm tới thất bại, tới thắng lợi. Nhưng chừng nào
có liên quan tới Thượng đế, không có khoảng
cách. Tình huống là ở chỗ Thượng đế đã ở cùng chúng ta.
Khi
Tensing và Hillary trèo lên đỉnh Everest, niềm vui của họ là
gì? Họ là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đứng trên đỉnh núi cao nhất.
Không có gì khác trên Everest.
Nhưng người đầu tiên trên đỉnh
Everest! - lịch sử đã được tạo ra; bản ngã tìm thấy sự quan trọng trong hành động này. Bây giờ chừng nào còn Everest trên thế giới thì chừng ấy tên của Hillary và Tensing không thể bị xoá đi.
Có
biết bao cạnh tranh để lên tới mặt trăng cho mãi tới gần đây. Điều rất thú vị là biết chúng ta đã để lại gì trên mặt trăng. Những người đã lên đến mặt trăng đều là
người Ki tô giáo, nhưng họ không
để lại bức tượng của
Jesus ở đó, họ đã để lại lá cờ Mĩ.
Nghĩ mà xem: cờ là thực,
Jesus không thực! Ngay cả ý tưởng này cũng không thoáng qua tâm trí
người Mĩ để mang
ít nhất một bức tượng nhỏ của Jesus. Họ đã
mang lá cờ! Lá cờ là bản ngã thực của con
người. Và nếu tên của Jesus đôi khi còn được nhớ tới, điều đó cũng có nghĩa là một loại lá cờ, nó không có ý nghĩa gì khác. Khi đấy là vấn đề chiến đấu, vấn đề giương
cao lá cờ, vào thời đó Jesus, Rama, Krishna, Phật đều được ghi
nhớ; nhưng việc dùng họ thì không nhiều hơn việc dùng
lá cờ. Họ cũng
là một lá cờ trên
bản ngã con người.
Trên
mặt trăng chúng ta đã để lại sau các lá cờ. Con người bận bịu ham muốn tìm ra cái gì đó mà chỉ người đó mới có thể làm để cho bản ngã
người đó thu được tầm quan trọng. Nhưng
nếu như bạn được sinh
ra trên đỉnh Everest bạn sẽ gặp khó
khăn lớn vì còn đâu để kéo cờ nữa.
Con
người được sinh
ra trong Thượng đế; chỉ ngài hiện hữu. Bạn đã ở đấy, bạn chưa
bao giờ đi xa. Đó là mảnh đất của bạn mà trên đó bạn đã đứng. Do đó, trong việc đạt tới Thượng đế không có cơ
hội cho bất kì bản ngã nào. Bản ngã không được quan
tâm tới trong điều đó. Thế thì làm sao khao khát và ước ao nảy sinh được khi không có ham muốn về Thượng đế?
Khao
khát về điều
thiêng liêng nảy sinh theo cách rất kì lạ. Hiểu điều này cho đúng, bởi vì
không có cách nào khác hơn
cách này. Khát khao về thế giới nảy sinh bởi vì khoảng cách. Nếu khoảng cách là không thể vượt qua được, hấp dẫn trở nên cực kì lớn. Và
đây là lí do tại sao, trong thế giới, bất kì
khi nào mọi thứ được đạt tới mối quan tâm của người ta đều mất đi,
bởi vì khoảng cách đã bị vượt qua rồi. Bạn đã
ham muốn người đàn
bà, bạn đã tìm thấy cô ta; bạn đã
ham muốn xây nhà, bạn đã xây nó; bạn đã
ham muốn chóp vàng trên nhà mình và bạn đặt nó ở đó -
cái gì tiếp?
Cho
nên bất kì cái gì được đạt tới, thế thì nó trở thành
vô giá trị vì nó đã tới gần bạn, nó
không còn khoảng cách nữa. Nếu nó ở xa và
có khó khăn theo cách không ai đạt tới được nó, chỉ thế thì bạn mới cảm thấy xúc động, thấy vui
về nó.
Vui
về giầu có
không có trong bản thân sự giầu có, nó là trong cái nghèo của nhiều người
khác. Nếu mọi người đều trở thành
giầu, toàn bộ mọi sự bị hỏng. Đấy là vấn đề ở Mĩ:
vui của việc
thành giầu đang trở nên ngày càng ít đi. Người
nghèo đang mặc cùng kiểu quần áo như người giầu, lái cùng kiểu xe ô
tô, sống trong những ngôi nhà tương
tự. Không có khác biệt cơ
bản nhiều mấy giữa người giầu và người nghèo. Cái vui của người giầu đang
bị mất đi.
Người giầu đang
cảm thấy bị bối rối do
điều đó; họ đang tìm những trò
mới mà chỉ có họ mới có
khả năng hưởng thú.
Chúng
ta là trong Thượng đế, do
đó không có việc cầu gọi, không lời mời trong đó cho bản ngã;
không có thách thức, không có động cơ
cho bản ngã. Vậy thì làm sao khát khao về điều thiêng liêng có thể nảy sinh được?
Khát khao về những thứ trần thế nảy sinh là do khoảng
cách của chúng và do sự thách thức và mời gọi của
chúng. Khát khao về Thượng đế nảy sinh từ thất bại của những điều trần tục.
Để điều này được hiểu. Khi bạn chạy theo mọi hướng và ở đâu
cũng thất bại; khi
bạn đã đạt được mọi thứ và tất cả đều chứng tỏ vô giá trị; khi tìm kiếm của bạn về mọi thứ đã hoàn thành, và với hoàn thành này nảy sinh
tiêu cực, mọi thứ trở thành con số không; chỉ thế thì mới nảy sinh
khao khát về Thượng đế. Mọi thứ dường như
vàng từ nơi xa nhưng
tất cả chúng
lại chứng tỏ là đống bùn khi chúng lọt vào tay bạn. Khoảng cách càng xa, vàng càng nguyên chất. Khi nó bắt đầu lại gần hơn, nó cũng bắt đầu trở nên
kém nguyên chất đi. Gần hơn
nữa nó bắt đầu biến thành đất sét.
Có
câu chuyện về vua
Midas ở Hi lạp - có
trào phúng lớn trong đó. Midas được ân huệ có một quyền năng siêu nhiên; món quà của thần là ở chỗ bất kì cái gì ông ta sờ vào đều trở thành
vàng. Tất cả chúng
ta là điều ngược của Midas: bất kì
cái gì chúng ta mó tay vào đều trở thành
đống bùn!
Nhưng điều đó rất thú vị... Ngay cả Midas cũng trong rắc rối lớn - làm sao có thể có bất kì kết thúc
nào cho rắc rối của chúng ta? Bất kì
cái gì Midas sờ vào đều trở thành vàng. Ông ta chạm vào
vợ, bà ấy trở thành vàng. Ông ta chạm vào
thức ăn, nó thành vàng. Ông ta cầm cốc nước, trước khi nó tới môi
ông ta, nó đã thành vàng. Midas đáng thương!
Ông ta trong khó khăn lớn. Bạn
không thể nào làm dịu cơn
khát của mình bằng vàng được.
Chúng ta có nói nhiều đến đâu
về “một thân
thể tựa như vàng lấp lánh,” cũng không thành vấn đề, không có sự thoả mãn nào nảy sinh từ thân thể như
thế. Người yêu
có thể ca tụng
thân thể của người mình yêu như
“một tấm thân
vàng” đến đâu đi chăng nữa thì cũng không thành vấn đề, người đó sẽ hiểu điều gì xảy ra nếu tấm thân đó thực sự trở thành
vàng. Người đó sẽ phải đập đầu mình
nếu như điều như thế xảy ra.
Người đó sẽ cảm thấy rằng tấm thân trước còn
tốt hơn.
Cho
nên Midas đã gặp khó khăn lớn. Ông ta đã bị vàng
hấp dẫn bởi việc nói chuyện với các nhà thơ. Bây giờ sao? Mọi thứ đều thành vàng - vợ, nước, thức ăn! Mọi người bắt đầu chạy trốn khỏi ông ta. Con riêng của ông
ta cũng bắt đầu giữ khoảng cách với ông ta - ai biết được khi nào ông ấy có
thể chạm phải bạn! Không bạn bè nào dám lại gần ông ta. Midas trở nên rất đơn
độc. Ông ta là vua, và ông ta trở nên đơn
độc. Các quan thượng thư
sẽ không tới quá gần ông ta; họ giữ một khoảng cách an toàn từ xa để cho họ có thể chạy trốn nếu cần. Midas bắt đầu chết đói. Ông ta không thể ăn thức ăn nào, ông ta không thể uống nước. Ông
ta bắt đầu la
hét và kêu to, “Ôi, lạy trời, xin
ngài rút lại món quà này đi! Tốt hơn
cả là con vẫn như
trước! Ân huệ này đã thành tai hoạ.”
Midas
đã trong trạng thái đó - mọi thứ mà ông ta sờ tới đều biến thành vàng. Hình dung xem hoàn cảnh của chúng ta sẽ như
thế nào nếu bất kì cái gì chúng ta động tới cũng đều biến
thành đống đất sét.
Vợ dường như đẹp đẽ và như
vàng khi cô ấy ở xa
xa; cái ngày hôn nhân xảy ra, cô ấy bắt đầu biến thành đất đen.
Trong bốn hay năm năm cô ấy trở thành như bùn. Mọi thứ đều biến thành bùn.
Cái
ngày bạn nhận ra rằng mọi chạy đua
đều trở thành
vô tích sự, bạn đi đến một cái dừng chết dí ngay nơi Thượng đế hiện hữu. Cái
ngày bạn đi tới biết rằng bạn đã
không thu được gì bởi việc chạy đua, bạn sẽ không chạy đua thêm nữa. Và
bởi vì bạn
không chạy đua, bây giờ bạn thấy điều mà trước đây không thấy được bởi vì
chạy đua.
Khi
tâm trí mê mải trong chạy đua, mọi thứ đã từng ở xa đều được thấy. Khi chạy đua trở thành vô dụng, mắt trở lại khung cảnh gần hơn.
Và nếu chạy đua
dừng lại toàn
bộ, mắt bắt đầu nhìn theo chiều ngược. Mãi cho đến nay chúng đã chỉ nhìn
bên ngoài, bây giờ chúng bắt đầu nhìn bên trong.
Gương thực hiện việc quay ngược lại. Thế thì bạn không tìm thứ gì
đáng nhìn trong thế giới nữa, hay đáng kiếm và
đáng tìm trong thế giới nữa. Bây giờ thế giới không còn là ham muốn chút nào nữa. Đó
là lí do tại sao Phật, Mahavira và Upanishad đã đặt nhiều nhấn mạnh thế vào sự kiện là vô ham muốn là
cánh cửa.
Ham
muốn là cánh cửa đi ra xa; vô ham muốn là
cánh cửa về lại gần.
Bây
giờ chúng ta hiểu câu kinh này: “Bên trong thân thể ẩn giấu cái
không sinh và vĩnh hằng.”
Nó
chưa bao giờ sinh ra, nó có đó mãi mãi. Cái vĩnh hằng và không sinh đang ẩn bên
trong thân thể nhưng thân thể không
biết về nó.
Thân thể là một phần của đất; nó
bị che giấu bên trong đất nhưng đất
không biết về nó.
Trong kinh này cùng điều đó được lặp lại từ những góc độ khác nhau.
Cái
không sinh và vĩnh hằng bị ẩn giấu trong lửa, nhưng
lửa không biết nó. Nó được ẩn giấu ở mọi nơi,
nhưng người đứng sau cái bị che giấu không biết đến nó bởi vì
người đứng sau
cái bị che giấu đang chạy đua
bên ngoài. Bạn đã bao giờ nhận ra điều này chưa?
Nếu bạn có
thể kinh nghiệm được việc chạy đua bên trong của thân
thể bạn, bạn sẽ đạt tới samadhi. Bạn đã
kinh nghiệm mỗi việc chạy đua bên ngoài của thân thể - một thân thể đẹp được thấy và
xúc động chạy qua
thân thể bạn; mọi tế bào thân thể bạn bắt đầu chạy đua theo nó. Một đoá hoa đẹp được thấy và mắt bắt đầu chạy đua.
Một giai điệu du dương
được nghe thấy và tai bắt đầu chạy đua.
Thân
thể bao giờ cũng chạy đua bên ngoài. Bạn đã bao giờ kinh
nghiệm thân thể chạy đua bên trong chưa? Không, bạn chưa
kinh nghiệm đâu. Thế thì làm sao thân thể đáng
thương này biết được ai đang ẩn náu bên trong? Nơi thân thể chưa bao giờ đi, nơi
thân thể chưa bao giờ ngó tới, chưa bao giờ nghe thấy, chưa bao giờ thám hiểm... làm sao thân thể có thể biết được cái
gì có đó bên trong? Do đó thân thể vẫn còn là kẻ xa lạ với người sở hữu thân thể đó. Tất cả chạy đua đều hướng
theo bên ngoài, do đó dốt nát tràn ngập bên trong. Kinh này là việc lặp lại cho
cùng một thứ nhưng từ những cánh cửa khác
nhau.
Cái
ẩn kín bên trong không khí, không khí
không biết. Tâm trí không biết về người sở hữu thân thể đó. Bản ngã không hay về người sở hữu thân thể đó.
Tâm trí lí trí, cái bất diệt, cái
không biểu hiện - tất cả chúng đều không biết đến người có thân thể chính là chúng và người ẩn kín bên trong chúng. Ngay cả cái chết cũng vẫn còn không quen biết với người có cái chết xảy ra. Phát biểu này có đôi chút kì lạ: cái
chết vẫn còn
không quen biết với người chết. Không có gì chết khi người ta
chết cả.
Khi
cái chết xảy ra,
ai thực sự chết? Không ai cả. Thân
thể không chết, bởi vì nó bao giờ cũng chết rồi;
không có vấn đề về việc chết của nó. Người ẩn kín bên trong thân thể là bất tử vĩnh viễn; không có vấn đề về việc chết của người đó.
Chỉ mối quan
hệ tan vỡ.
Trong cái chết mối quan
hệ giữa người chết và người bất tử tan vỡ. Nhưng
bản thân cái chết, cho dù sau khi tới gần đến thế, cũng
vẫn còn không biết gì về người bất tử.
Bao
nhiêu lần chúng ta đã chết, vậy mà chúng ta vẫn chưa
đi tới biết người bất tử ở bên trong chúng ta. Chính tình huống này có nghĩa là ngay cả trong
khi tới gần
chúng ta vẫn không có khả năng nhìn vào trong; cái nhìn của chúng ta tiếp tục hội tụ bản thân nó ra ngoài. Nhìn một người đang nằm trên giường chết: người đó vẫn cứ nhìn ra ngoài. Thậm chí
bây giờ người đó
không cảm thấy
thích nhìn vào bên trong.
Cái
chết đang kéo và lôi người đó khỏi thân thể, nhưng
người đó vẫn níu
bám lấy thân thể - níu bám còn mạnh hơn, mạnh hơn hẳn trước đó.
Đây
là lí do tại sao người già trở nên xấu còn
người trẻ trông
đẹp. Nếu
chúng ta nhìn điều đó sâu sắc, lí do cho điều này
không phải là một mình
thân thể. Người trẻ không níu bám lấy thân
thể, người đó vẫn còn tin tưởng vào
nó. Người già bắt đầu níu bám lấy thân thể; và bởi vì níu bám đó mà mọi thứ xấu sinh ra. Người già bắt đầu sợ hãi: cái chết đến đây... bây giờ cái
chết tới...
cái chết ở cạnh kề. Người già
càng sợ chết càng
níu bám mạnh hơn vào cuộc sống. Và
người càng níu bám mạnh hơn
vào cuộc sống, người đó càng trở nên xấu hơn.
Trẻ con trông đáng yêu làm sao! Chúng đơn giản
không níu bám chút nào. Chúng không có ý tưởng rằng cái chết tồn tại. Nhìn chim chóc và muông thú mà
xem: chúng già đến đâu chúng trông cũng vẫn thế. Tôi đang nói về những con vật và những con chim còn chưa bị hư hỏng qua
việc đồng
hành cùng con người. Con người chỉ làm hỏng mọi thứ. Cho nên điều dường như rất lạ là
trong rừng hoang chim chóc và muông thú có vẻ không bị già đi. Kiểu tuổi già bắt giữ con người dường như không bắt giữ chim
chóc và muông thú. Chúng vẫn còn giống như
trẻ con. Theo một nghĩa sâu sắc nào
đó chúng không nhận biết chút
nào rằng cái chết sẽ tới, do
đó không có níu bám vào thân thể.
Tính
tươi tắn ở trẻ con bởi vì cuộc sống là
tự nhiên, không có sợ chết. Điều đó
trở thành khó khăn cho tuổi già; cái chết trở nên rõ ràng hơn.
Cuộc sống là
nỗ lực bây
giờ, người già
sống bằng nỗ lực. Mọi li của cuộc hành trình người đó đều ý thức tới cái chết bây giờ. Điều đó tạo ra bất định; căng thẳng tăng lên bên trong người đó
và lo âu cùng buồn khổ bắt giữ người đó
thường xuyên, và điều đó làm cho tâm trí thành xấu.
Bản thân cái chết
không đi tới biết người bất tử ẩn bên trong thân thể. Lí
do duy nhất cho điều này là ở chỗ hiện tượng
nhìn vào trong chỉ xảy ra
khi việc nhìn ra ngoài đã trở thành vô tích sự và vô
nghĩa. Để điều này
được hiểu
đúng. Nó dường như đã trở thành vô nghĩa nhiều lần rồi, nhưng vẫn chưa trở thành
thực sự như vậy. Không
phải là cái vô nghĩa đó không bừng dậy trong bạn - nó có bừng dậy trong bạn đấy. Bạn đã nghĩ về việc mua một chiếc xe rồi bạn mua nó. Khi bạn chưa mua nó, bạn mơ
về nó trong đêm. Vào cái đêm trước hôm nó được giao
cho bạn, thậm chí
bạn còn không ngủ được ngon - cả đêm ròng!
Ai
đó đã viết về người bạn mình, người mua một chiếc xe rất đẹp, chiếc
Ferarri. Nó là chiếc xe rất đắt. Trong chính ngày đầu tiên
người đó đã lái nó, chiếc xe bị xước một chút xíu.
Người bạn đó không còn là đứa trẻ nữa, ông
ta đã năm mươi tuổi; và ông ta cũng không phải là người thiếu học vấn, ông ta là một giáo sư
đại học -
giáo sư triết học hẳn hoi.
Nhưng người ta đã thấy ông ấy khóc hôm đó, gục đầu vào vai mẹ mình.
Chỉ bởi vì
chiếc Ferarri bị xước! Chiếc xe đắt thế. Ông ta đã mơ ước biết bao về nó. Vết xước đó của chiếc xe hẳn đã phải ăn sâu vào ông ta, vào chính linh
hồn ông ta; đấy là lí do tại sao
ông ta khóc.
Khóc
thì tất cả các bạn đều làm. Người đàn ông đó phải là một người chân thật hơn.
Trên con đường thoáng đãng, gục đầu vào vai mẹ, ông ta bắt đầu khóc. Nhưng
trạng thái này kéo dài được bao lâu? Trong vài ngày chiếc Ferarri sẽ trở nên cũ. Sau một hay
hai tháng người này sẽ ngồi trong cũng chiếc xe đó nhưng
ông ta thậm chí sẽ không cảm thấy mình
đang ngồi trong chiếc xe nào nữa. Ông
ta sẽ chán với chiếc xe này - nhưng chưa chán với xe. Mơ ước về một chiếc xe
khác nào đó sẽ bắt giữ ông ta. Bây giờ ông
ta có thể nghĩ tới việc làm chủ chiếc Rolls Royce, hay chiếc xe khác nào đó. Tâm trí sẽ chán với một người đàn bà hay một người đàn ông, nhưng
nó sẽ không chán với đàn bà như
vậy hay đàn ông như vậy.
Tất cả chúng ta đều thấy chán, nhưng cái chán của chúng ta vẫn còn
gắn với những thứ đặc biệt. Còn chính thực tại của việc chán
này không trở thành một phần của kinh
nghiệm của
chúng ta. Khi chúng ta mệt mỏi về thứ này, chúng ta chọn thứ khác cùng kiểu, và quá trình này cứ tiếp tục mãi. Đây là khác biệt duy nhất giữa bạn và vị phật.
Bạn chán với một người đàn bà nhưng
mối quan tâm của bạn vẫn tiếp tục trong người đàn bà khác. Nếu bạn chán với vợ mình,
mối quan tâm của bạn tiếp tục ở vợ của ai đó khác. Bất kì
cái gì gần gũi và có sẵn đều trở thành
vô dụng, nhưng cái ở xa duy trì mối quan
tâm của bạn. Cái
ở xa đó rồi cũng sẽ trở thành
vô dụng vào ngày mai khi nó lại gần bạn. Nhưng không thể nào mọi thứ đều có thể lại gần người ta được. Một số thứ vẫn tiếp tục còn ở xa; do vậy mối quan tâm vẫn tiếp diễn, ham
muốn vẫn cứ chạy đua.
Chán
một đàn bà, vị phật chán luôn với mọi đàn bà. Sống trong một lâu
đài, vị phật đã sống trong mọi lâu
đài. Với vị phật, chỉ một việc xảy ra là đủ. Đây là cách tiếp cận khoa học. Nếu một giọt nước đã được biết, thế thì
toàn bộ biển cả đã được biết. Ông
ấy sẽ là
nhà khoa học điên khùng nếu cứ tiếp tục kiểm thử mọi đại dương và nói, “Khi tôi hoàn thành việc kiểm thử mọi giọt nước của mọi đại dương, tôi sẽ tuyên bố rằng nước được tạo nên
từ hidro và oxi.” Chúng ta đang trong
một loại điên
khùng tương tự. Nhà khoa học kiểm thử một giọt nước, phát hiện ra rằng nước được tạo nên từ các nguyên tử hidro
và oxi, và rằng H2O là phương trình cho các thành tố của nước, và
thế là vấn đề xong với ông ta. Mọi nước trong mọi biển bây giờ đều được biết. Bất kì nơi đâu có nước, ngay cả trên
bất kì hành tinh khác nào - và các nhà
khoa học nói có ít nhất năm mươi
ngàn trái đất tương tự như trái đất của
chúng ta - hay ở bất kì
đâu trong vũ trụ, nó đều được tạo nên từ việc bố trí của các nguyên tử: H2O.
Mọi nước được biết bằng việc biết một giọt nước.
Với việc hiểu mẫu hình và hành vi của một ham muốn, người đó
đi tới biết toàn
thể bản chất của mọi ham
muốn và trở thành vị phật. Biết một ham muốn, người đó, người thấy được cái
vô tích sự của nó -
cái phù phiếm phổ cập - và cái thất bại không tránh khỏi của nó, ham muốn của người đó đơn giản rụng đi. Ham muốn rụng đi tựa như cái nạng của người què bất thần rơi xuống. Người đó đã bước đi với trợ giúp của cái nạng; người đó đã không có chân để bước, người đó đã có chân gỗ. Bỗng nhiên chiếc nạng rơi ra và người què
đổ sập xuống. Điều tương tự cũng xảy ra khi cái nạng ham
muốn rơi rụng đi. Không có chân thực để bước
trong cuộc sống trần gian; chúng là nhân tạo, cứng đơ,
được làm bằng những ham muốn. Ham muốn rơi đi chính là chiếc nạng rơi đi, và người ta bỗng nhiên thấy bản thân mình ở đó -
từ nơi mà người đó chưa bao giờ đi, nơi
người đó bao giờ cũng ở đấy,
trong bản tính thực của mình. Đó là Thượng đế, đó là linh hồn.
Đoạn cuối của kinh
giải thích điều này:
Cái
chết là thân thể của nó, nó cư ngụ trong
cái chết nhưng cái chết
không biết về nó.
Nó
là cái ta bên trong nhất của tất cả những yếu tố này, mọi tội lỗi của nó đều bị tiêu
huỷ, và nó là thiên thần thiêng liêng Narayana
Thân
thể, giác quan, vân vân, là vật chất vô linh hồn, và cảm giác về ‘cái tôi’ về chúng
là adhyas - ảo tưởng.
Do
đó, người thông minh nên vứt bỏ ảo tưởng này qua sự trung
thành với Brahman - thực tại tuyệt đối.
Điều cuối cùng là kinh này. Cuộc chạy đua theo các ham muốn là do sự kiện rằng mơ nào đó bao giờ cũng
có vẻ gần đạt tới hoàn thành ở đâu đó nơi
xa xa. Người trong sa mạc nhìn thấy một hồ nước gần chân trời, chạy lại lấy nước, và khi tới đó
phát hiện ra rằng
không có nước, rằng
không có gì ngoài cát và cát. Nhưng
rồi cái hồ lại xuất hiện đâu đó khác. Điều này
được gọi là ảo cảnh.
Khi
tia sáng mặt trời trở nên nóng và được phản xạ trên cát thì các tia sáng rung rinh
tạo ra ảo cảnh về gợn sóng
và sóng. Gợn sóng và sóng lăn tăn cứ liên tục lan rộng, việc phản xạ trải trên bề mặt xuất hiện. Nếu có cây cối gần đó, cả cây đó cũng được phản xạ lên bề mặt đó, bề mặt có
tác dụng tựa như chiếc gương. Khi từ một khoảng
cách xa bạn thấy
không chỉ có nước mà
còn cả phản xạ của đám mây bay qua in trên nước, làm sao bạn
không tin được? Nếu có cả phản xạ của đàn chim bay trên trời
trong cái gọi là nước đó, và nếu cây
cối gần đó
cũng được phản xạ vào trong nước, niềm tin của bạn vào
sự tồn tại của nước lại càng được xác
nhận. Không chỉ sóng nước được
trông thấy, ngay cả những phản xạ trong nước cũng
được thấy. Nhưng khi bạn lại gần hơn, phản xạ dừng xuất hiện, và khi tiến lại chỗ ấy bạn không tìm thấy gì
ngoài cát.
Adhyas,
hay ảo tưởng,
nghĩa là thấy cái không có đó.
Shankara
yêu từ này lắm, và
với Upanishad nó là chính nền tảng. Adhyas nghĩa là phóng chiếu, thấy cái không có đó: cái được thấy không thực có đó, bạn đang
phóng chiếu nó từ bên
trong. Bạn là nguyên nhân của việc phóng chiếu.
Một khuôn mặt dường như
đẹp với bạn: liệu cái đẹp đó đang có đó hay bạn đang
phóng chiếu về nó?
... vì ngày mai cũng cùng khuôn mặt đó lại có thể tỏ ra xấu với bạn. Có
thể nó đã không có vẻ đẹp với bạn ngày hôm qua. Hôm nay bỗng
nhiên con mắt thiêng liêng của bạn đã mở ra và
khuôn mặt này đã bắt đầu trông đẹp với bạn. Với bạn bè của bạn nó vẫn trông không đẹp.
Người ta nói rằng
Laila không đẹp, chỉ có
Majnu mới trông cô ấy là đẹp. Cả làng
đều khó xử, và mọi người cố gắng thuyết phục Majnu: “Cậu ngây thơ
lắm. Có bao nhiêu gái đẹp trong làng; cậu cứ bị ám ảnh
không cần thiết với Laila làm gì.” Majnu trả lời, “Nếu bác muốn thấy Laila, bác phải có con mắt của Majnu.” Đây là adhyas, ảo tưởng. Vấn đề không
phải là Laila mà vấn đề là con mắt của Majnu. Vấn đề không phải là cái được thấy mà vấn đề là người đang thấy cô ấy. Cho nên Majnu nói, “Thấy bằng mắt tôi đây này, thế thì bác sẽ có thể thấy được
Laila.” Không hoài nghi gì rằng dưới con
mắt của
Majnu thì cô ấy sẽ trông
đẹp. Nếu như có thể mượn được cặp mắt của Majnu thì Laila sẽ thành đẹp đối với bạn như cô ấy đã đẹp đối với Majnu.
Mắt cũng có một kiểu kính. Mầu của kính phóng chiếu lên
vật được thấy. Tất cả các
giác quan bạn đều đang
phóng chiếu. Bạn đang
tạo ra một thế giới khắp
quanh bạn. Tâm trí bạn không chỉ là người nhận, nó là đấng sáng tạo nữa. Bạn đang sáng tạo ra một thế giới quanh bạn - về cái đẹp, về hương thơm, thế này, thế nọ.
Thế giới này không phải như
bạn thấy nó.
Nó tuỳ thuộc vào bạn. Nếu bạn thay
đổi, thế giới cũng thay đổi theo. Thanh niên nhìn thấy thế giới này,
người già thấy thế giới
khác, và trẻ con lại thấy thế giới khác
nữa. Cái gì tạo ra khác biệt này?
Thế giới vẫn như
vậy thôi. Nhưng trẻ con
không có cùng con mắt như thanh niên. Trẻ con vẫn còn quan tâm tới việc nhặt đá và sỏi - chỉ mầu sắc của mọi thứ là đủ. Thanh niên nói, “Vứt quách những thứ ấy đi! Có gì trong đó nào? Chúng có
giá trị gì nào?” Với thanh niên tiền bạc đã trở nên giá trị. Người đó bắt đầu hiểu giá trị của tiền. Bây
giờ nhặt đá sỏi không có tác dụng.
Bây giờ chẳng ích
gì mà đuổi theo bướm cả.
Trẻ con bắt bướm; bướm trông như
cõi trời với
chúng. Thanh niên coi trẻ con là dốt nát, nhưng
khi người này già đi, các giác quan người đó cũng mệt mỏi; kinh nghiệm của người đó chuyển thành chua chát và cay đắng và người đó cảm thấy dường như mồm đầy một kiểu vô vị. Bây giờ ngay cả thanh niên cũng dường như là giống trẻ con đối với người này. Với người đó,
thanh niên đang đuổi theo các loại bướm bướm
khác. Chỉ có loại bướm là thay đổi, nhưng không phải là con bướm.
Người già cứ hay nói năng, giải thích, rằng đấy là bướm, nhưng không thanh niên nào chịu nghe họ. Bản thân
họ đã không nghe bố họ và ông họ. Có lí do để không
nghe, và đó là việc họ có
con mắt khác. Nếu thanh niên có đôi mắt của người già, người đó sẽ thấy cùng
một sự việc. Và nhớ lấy, điều thú vị là ở chỗ nếu người già
có thể có được đôi
mắt của
thanh niên lần nữa, người đó sẽ quên mọi kinh nghiệm này.
Người đó sẽ quên
mọi khôn ngoan mà người đó đang thể hiện; thế giới một lần nữa lại sẽ trở thành
đầy mầu sắc với người đó.
Tôi
đã từng nghe: một chánh án của Toà
Thượng thẩm Mĩ
đã tới Paris khi ông ta còn trẻ và đã xây dựng gia
đình. Sau ba mươi năm,
khi ông ấy đã già, và sau khi con ông ấy cũng đã xây dựng gia
đình và ghé thăm Paris, vị chánh án lại trở lại
Paris cùng với vợ. Tên
ông ta là Peare. Ông ấy nhìn Paris, và nói với vợ, “Đấy
không còn là cùng Paris đó nữa. Mầu sắc của nó đã phôi phai rồi. Cái đẹp là ở những ngày đó khi chúng ta tới Paris
lần đầu
tiên. Mọi thứ đều không thể so
sánh được; Paris đã khác rồi!”
Vợ ông trả lời,
“Xin lỗi ông, ông quên mất rồi. Lần đầu tiên chúng ta tới thì
Peare là con người khác; Paris vẫn thế. Nếu ông
có thể thấy được Paris bằng con
mắt của
thanh niên thì nó vẫn thế. Làm
sao Paris thay đổi được?” Mọi người thay đổi và cái nhìn của họ thay đổi.
Nếu thế giới dường như
bị thay đổi với thay đổi trong cái nhìn của bạn, hiểu cho rõ rằng cái bạn đã thấy và đã nghĩ nó chỉ là
adhyas, ảo tưởng
thôi. Nó đã được tạo ra bởi phóng chiếu của bạn, nó không phải là thế giới như nó đang đấy. Liệu có cách nào để thế giới được thấy không có phóng chiếu của bạn
không? Nếu có, chỉ có thế người ta mới thấy được thế giới như nó đang đấy.
Phóng
chiếu là ảo tưởng. Do đó, nhớ lấy, thấy không có nghĩa là chỉ nhìn bằng mắt. Thấy nghĩa là trạng
thái mà tất cả những phóng chiếu của bạn đều dừng lại, khi bạn không có quan điểm nào.
Khi bạn không có con mắt cá nhân riêng để áp đặt các điều kiện, khi
bạn không có xúc động và ham muốn
phóng chiếu, thế thì
việc thấy xảy ra.
Nhìn
sa mạc khi bạn không khát: thế thì
sa mạc không thể lừa bạn. Lừa dối xảy ra bởi vì cơn
khát. Bạn cần nước, và khi bạn
không có nước, ham muốn trở thành ngày một mạnh hơn. Và khi ham muốn trở nên quá mạnh,
tâm trí bạn phát rồ và nó muốn tin
ngay cả những cái
mà thực tế không
có đó.
Nhưng có một trạng thái mọi cái nhìn đều dừng và việc thấy nảy sinh. Khi nào thì cái nhìn dừng lại? Cái nhìn dừng lại chỉ khi mọi ham muốn dừng lại, bởi vì mọi cái
nhìn đều là trò chơi của ham muốn của bạn, sự mở rộng của các ham muốn của bạn.
Kinh
nói:
Thân
thể, giác quan, vân vân, là vật chất vô linh hồn, và cảm giác về ‘cái tôi’ về chúng
là adhyas - ảo tưởng.
Do
đó, người thông minh nên vứt bỏ ảo tưởng này qua sự trung
thành với Brahman - thực tại tuyệt đối.
Qua
sự trung thành với Brahman - trung thành với cái
ta.
Trung
thành của chúng ta bao giờ cũng là với người khác, với ai
đó khác, không phải với cái
ta riêng của chúng ta. Chúng ta chạy theo những thứ khác, không hướng về trung tâm riêng của
mình. Chúng ta bao giờ cũng đi đâu đó khác, né tránh người ở bên trong.
Trung
thành với Brahman nghĩa là cuộc đua của các ham muốn đã qua rồi, người ta đã đạt tới cái ta của
mình. Người ta phải đi tới chỗ không
có tâm trí nữa, không giác quan, không thân thể, nhưng
chỉ còn tâm thức thuần khiết.
Trong việc được bắt rễ vào đó, mọi ảo tưởng đều lập tức tan
tành; thế thì không còn thế giới mà chỉ có Brahman, thực tại tuyệt đối.
Khi
tôi đang nói tiếng Hindu - nhiều người không hiểu tiếng Hindu nhưng họ cũng có
thể dùng được cơ
hội này. Những người không hiểu tiếng Hindu nên nhắm mắt lại và lắng nghe chỉ âm
thanh. Họ nên ngồi im lặng dường như trong thiền. Và nhiều lần chân lí mà người ta
không hiểu qua lời người ta đi tới hiểu đơn thuần bởi việc lắng nghe âm thanh.
Khi
tôi nói tiếng Anh, những bạn không hiểu tiếng Anh không nên nghĩ rằng điều này vô dụng cho họ. Họ nên
nhắm mắt lại và thiền theo âm thanh của lời tôi mà không dự định hiểu ngôn
ngữ. Không cần cố hiểu ngôn
ngữ mà bạn
không biết. Ngồi im lặng, trở thành giống như
người dốt nát,
và thiền về tác động của âm thanh. Chỉ lắng nghe. Lắng nghe đó sẽ trở thành thiền và
nó sẽ có ích lợi.
Vấn đề thực sự không phải là
việc hiểu, mà
là trở nên im lặng. Nghe không phải là vấn đề, trở nên
im lặng mới là vấn đề. Biết bao
nhiêu lần điều xảy ra là cái bạn đã
hiểu trở thành
rào chắn, và điều tốt là lắng
nghe cái gì đó bạn không hiểu chút nào; thế thì
suy nghĩ không thể can nhiễu được. Khi cái gì đó không được hiểu, không có cách nào cho suy nghĩ
chuyển động;
chúng đơn giản dừng lại.
Do
đó, đôi khi lắ
ng nghe tiế
ng gió xào xạ
c
trong lùm cây, nghe tiế
ng chim hót, tiế
ng nướ
c chả
y, còn
tố
t hơ
n là lắ
ng nghe ngườ
i thấ
y và hiề
n nhân. Upanishad thự
c đang
tuôn chả
y ở
đó,
như
ng bạ
n sẽ
không hiể
u chúng. Và nế
u bạ
n hiể
u và bạ
n có
thể
lắ
ng
nghe, trí năng củ
a bạ
n sẽ
không mấ
y chố
c mà lắ
ng xuố
ng bở
i vì
nó không đượ
c cầ
n nữ
a. Và khi trí năng củ
a bạ
n đã lặ
ng yên, bạ
n đượ
c đư
a lên chỗ
bạ
n đang
tìm kiế
m.